Thức ăn chăn nuôi mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và những sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật, vi sinh vật, khoáng vật, những sản phẩm hóa học, công nghệ sinh học…, những sản phẩm này cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho con vật theo đường miệng, đảm bảo cho con vật khỏe mạnh, sinh trưởng, sinh sản và sản xuất bình thường trong một thời gian dài.
II. Phân loại thức ăn chăn nuôi
a) Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn là thức ăn dùng để cung cấp một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho vật nuôi;
b) Thức ăn chăn nuôi hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy trì đời sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng hoặc chu kỳ sản xuất mà không cần thêm bất kỳ loại thức ăn nào khác ngoài nước uống;
c) Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh;
d) Thức ăn chăn nuôi bổ sung là nguyên liệu đơn hay hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho thêm vào khẩu phần ăn để cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật nuôi;
đ) Phụ gia thức ăn chăn nuôi là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến, xử lý nhằm duy trì hoặc cải thiện đặc tính nào đó của thức ăn chăn nuôi;
e) Premix là loại thức ăn bổ sung gồm hỗn hợp của một hay nhiều hoạt chất cùng với chất mang;
g) Hoạt chất là chất vi dinh dưỡng hoặc chất kích thích sinh trưởng, kích thích sinh sản hoặc chất có chức năng sinh học khác được đưa vào cơ thể vật nuôi bằng thức ăn hay nước uống;
h) Chất mang là chất vật nuôi ăn được dùng để trộn với hoạt chất trong premix nhưng không ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi.
i) Sản xuất thức ăn chăn nuôi là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động sản xuất, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển thức ăn chăn nuôi.
III. Phân loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi
1) Dựa trên nguồn gốc, thức ăn chăn nuôi gồm các loại sau:
- Thức ăn thô khô: tất cả các loại cỏ tự nhiên, cỏ trồng được cắt phơi khô, các loại phụ phẩm nông nghiệp phơi khô… có hàm lượng xơ thô > 18%, như:
• Các loại củ, quả: sắn, khoai lang, khoai tây, bí đỏ…
- Thức ăn ủ xanh:
• Cây ngô tươi, cỏ voi ủ xanh.
• Các loại rau ủ chua.
- Thức ăn bổ sung khoáng:
• Bột xương, bột vỏ sò, bột đá vôi, bột CaCO3…
• Các chất khoáng vi lượng: FeSO4, CuSO4, MnSO4…
- Thức ăn bổ sung phi dinh dưỡng:
• Chất chống mốc, chất chống oxy hóa.
• Chất kích thích sinh trưởng…
• Chất tạo màu, tạo mùi.
• Thuốc phòng bệnh, kháng sinh.
- Thức ăn bổ sung vitamin: A, D, E, B1, B2, C…
- Thức ăn giàu protein: tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein thô > 20%, xơ thô < 18%, như:
• Thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật: các loại hạt họ đậu (đỗ tương, vừng, đậu mèo…) và phụ phẩm công nghiệp chế biến (khô dầu lạc, khô dầu đỗ tương…).
• Nấm men, tảo biên, vi sinh vật…
• Thức ăn giàu protein nguồn gốc động vật: bột cá, bột thịt, sữa bột…
- Thức ăn hỗn hợp: là hỗn hợp có từ hai nguyên liệu đã qua chế biến trở lên. Thức ăn hỗn hợp được phối hợp theo công thức của nhà chế tạo.
Thức ăn chăn nuôi
Có 3 loại thức ăn hỗn hợp:
- Hỗn hợp bổ sung: là hỗn hợp chứa các chất dinh dưỡng bổ sung như khoáng vi lượng, vitamin, axit amin, enzym, thuốc phòng bệnh… Hỗn hợp bổ sung thường chế biến dưới dạng premix. Ví dụ: premix khoáng, premix vitamin-axit amin…
- Hỗn hợp hoàn chỉnh: là loại hỗn hợp chứa tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho động vật nuôi, khi cho ăn không phải bổ sung bất cứ một chất nào khác trừ nước uống.
- Hỗn hợp đậm đặc: là hỗn hợp giàu protein, axit amin, chất khoáng, vitamin; khi nuôi động vật người ta pha loãng bằng những thức ăn tinh khác (ví dụ: ngô, tấm, cám gạo…).
2) Dựa trên phương pháp chế biến, thức ăn chăn nuôi gồm:
- Thức ăn dạng viên được qua máy ép cám viên chế biến từ các bột nguyên liệu ngô, khoai, sắn, lúa, đậu tương.v..v..
Doanh nghiệp làm thức ăn chăn nuôi muốn đảm bảo chất lượng cũng như tạo uy tín trên thị trường nên lựa chọn sử dụng dịch vụlàm hợp quy thức ăn chăn nuôicủa công ty Chứng nhận và kiểm định Vinacontrol. Vui lòng liên hệ theo đường dây nóng 1800. 6083 để được biết thêm chi tiết.
Listeriosis là một bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến nhiều loài động vật, bao gồm cả heo, người, chim và các động vật nhai lại. Bệnh do vi khuẩn tên là Listeria monocytogenes gây ra và được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những vùng có khí hậu ôn đới và khí hậu lạnh.
Vi khuẩn thường được tìm thấy trong ruột của heo và các loài cảm nhiễm khác. Ngoài ra, nó còn xuất hiện nhiều trong pho mát và thức ăn ủ chua. Heo sẽ bị nhiễm trùng nếu tiếp xúc với mầm bệnh, dù vậy bệnh rất ít xảy ra trên heo.
Vi khuẩn thường gây viêm não và viêm màng não mãn tính trên động vật nhai lại trưởng thành. Hơn nữa, nó cũng gây ra rất nhiều những thiệt hại đáng kể trên người.
2. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo nguy hiểm như thế nào?
Khi heo khỏe hít phải, ăn phải vi khuẩn, vi khuẩn xâm nhập đến các mô, cơ quan đích và gây nên các triệu chứng bệnh tương ứng như:
– Xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết. nhiễm trùng tiềm ẩn (ít biểu hiện triệu chứng ra ngoài).
– Xâm nhập vào bào thai, vào tử cung gây thai chết lưu, hỏng thai, gây chết heo con sơ sinh, sinh non…
– Xâm nhập vào thành ruột gây rối loạn tiêu hóa, hấp thu…
– Xâm nhập vào màng não và các tế bào não gây triệu chứng thần kinh, viêm màng não, viêm não.
– Xâm nhập đến các cơ quan nội tạng như gan gây hoại tử gan.
Mặc dù bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo ít khi phát triển nặng trên heo nhưng với mật độ mầm bệnh dày đặc và đa dạng như hiện nay, nếu chúng ta không làm tốt công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng thì khi được các mầm bệnh khác “mở đường”, vi khuẩn Listeria hoàn toàn có thể xâm nhập và làm cho tình trạng càng nặng thêm.
3. Làm sao để phát hiện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo?
Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo thường chỉ xuất hiện trên heo nái và heo con theo mẹ. Vì vậy, ta tập trung quan sát 2 đối tượng này, nếu thấy có các biểu hiện sau đây thì có thể heo đã bị nhiễm vi khuẩn Listeria.
Heo nái:
– Ít khi thấy biểu hiện rõ triệu chứng.
– Nếu có thì có thể có các triệu chứng như:
Sẩy thai.
Số heo con sinh ra yếu gia tăng.
Tăng số heo con chết lưu.
– Đột tử.
– Sốt cao.
– Nhiễm trùng huyết.
– Triệu chứng thần kinh, viêm màng não.
– Đầu bị nghiêng 1 bên.
– Nhiễm trùng tai.
Trong trường hợp bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo gây thiệt hại nhiều, để chắc chắn ta nên mang mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm để tìm chính xác căn nguyên gây bệnh nhằm có biện pháp điều trị kịp thời.
4. Xử lý bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo như thế nào?
Hành động đầu tiên nếu phát hiện heo nhiễm bện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là cách ly toàn bộ heo bệnh sang một ô chuồng khác để chăm sóc theo chế độ riêng.
Nếu heo đang ăn thức ăn ủ chua thì nên dừng lại ngay. Sau đó tiến hành điều trị cho heo bệnh bằng kháng sinh và các thuốc trợ sức, trợ lực (nhất là với những heo giảm mức thu nhận thức ăn).
Các thuốc kháng sinh hiệu quả với bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo bao gồm: penicillin, ceftiofur, erythromycin , và trimethoprim/sulfonamide. Trong đó, penicillin là thuốc có tác dụng tốt nhất cho đến hiện nay.
Khi tiêm kháng sinh, cần dùng ngay liều cao từ ban đầu vì như vậy mới có thể đạt được nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong não.
Doanh nghiệp làm thức ăn chăn nuôi muốn đảm bảo chất lượng cũng như tạo uy tín trên thị trường nên lựa chọn sử dụng dịch vụ làm hợp quy thức ăn chăn nuôi của công ty Chứng nhận và kiểm định Vinacontrol. Vui lòng liên hệ theo đường dây nóng 1800. 6083 để được biết thêm chi tiết.
Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) là bệnh phổ biến nhất trong ngành chăn nuôi lợn. Ở lợn nái, vi rút PRRS gây ra vấn đề sinh sản trong thời gian mang thai, bao gồm đẻ non hoặc sẩy thai.
Những con lợn đang tăng trưởng mắc phải bệnh này sẽ có vấn đề về đường hô hấp và tăng trưởng kém. Trong năm 2012, Holtkamp và các đồng nghiệp ước tính thiệt hại hàng năm do virus PRRS gây ra là 664 triệu USD chỉ riêng tại Mỹ. Các nhà sản xuất ở các trang trại lớn hơn sử dụng vắc-xin và các biện pháp an toàn sinh học tăng cường để ngăn chặn toàn bộ đàn gia súc bị triệt tiêu trong một đợt bùng phát vi rút PRRS. Thật không may, những phương pháp này đôi khi mang lại rất ít thành công. Do đó, các biện pháp khác, chẳng hạn như tăng lượng bột đậu tương trong chế độ ăn đang được áp dụng.
hình minh họa.
Tăng hàm lượng bột đậu tương có thể giúp giảm bớt những ảnh hưởng của vi rút PRRS. Bột đậu tương là nguồn protein chính cho lợn ăn. Nó cũng chứa isoflavones – chất có đặc tính chống viêm và kháng virút.
Trong số ra tháng 6 năm 2015 của tạp chí Journal of Animal Science, Tiến sĩ Ryan Dilger – trợ lý giáo sư tại trường Đại học Illinois và các đồng nghiệp đã xác định “Ảnh hưởng của hàm lượng bột đậu tương trong chế độ ăn tới hiệu suất tăng trưởng và phản ứng miễn dịch của lợn nhiễm vi rút PRRS”.
Nhóm nghiên cứu cho 64 con lợn cai sữa được tiêm phòng hoặc không tiêm phòng virus PRRS ăn bột đậu tương ở hàm lượng thấp hoặc cao. Các mẫu máu được lấy để xác định ảnh hưởng của bột đậu tương tới phản ứng miễn dịch và để xác định một cơ chế hành động có thể thực hiện. Cuộc thử nghiệm kéo dài 14 ngày. “Các phân tích tương ứng với giai đoạn đầu, giữa và giai đoạn phục hồi nhiễm vi rút PRRS, thường kéo dài 14 ngày”, Dilger nói.
Những con lợn bị nhiễm virút PRRS đã bị tăng nhiệt, giảm lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày và giảm hiệu quả thức ăn so với những con lợn không bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, trong nhóm bị nhiễm vi rút PRRS, lợn được cho ăn bột đậu tương với hàm lượng cao có xu hướng gia tăng trọng lượng trung bình hàng ngày so với những con lợn được cho ăn ở hàm lượng thấp.
Lợn không bị nhiễm vi rút PRRS có hiệu suất tăng trưởng tương tự cho dù chúng có được cho ăn chế độ ăn chứa bột đậu tương với hàm lượng cao hoặc thấp hay không.
Vào ngày thứ 14, lợn bị nhiễm virút PRRS ăn bột đậu tương với hàm lượng cao có huyết thanh PRRS thấp hơn và TNF-α (một cytokine có liên quan với viêm nhiễm) giảm so với lợn nuôi bằng một chế độ ăn có hàm lượng bột đậu tương thấp. Điều này cho thấy rằng những con lợn bị nhiễm bệnh được cho ăn chế độ ăn có chứa bột đậu tương ở hàm lượng cao đã loại bỏ virút hiệu quả hơn so với lợn bị nhiễm bệnh được cho ăn hàm lượng bột đậu tương thấp.
Nhìn chung, cho lợn nhiễm vi rút PRRS ăn bột đậu tương với hàm lượng cao trong khẩu phần ăn cho lợn có thể làm tăng tốc độ tăng trưởng và hiệu quả trong bố trí sản xuất nhất định.
“Đưa ra những lợi ích sức khỏe cho lợn cai sữa có tiềm năng lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất trong giai đoạn phát triển sau này”, Dilger nói. “Trong khi chúng tôi tập trung vào những lợi ích về miễn dịch và tăng trưởng trong giai đoạn khởi đầu, nghiên cứu trong tương lai cũng sẽ cần phải kết hợp với những lợi ích lâu dài trong suốt giai đoạn nuôi thương phẩm”.
Ngành thủy sản 10 tháng năm 2017 nhìn chung khá khả quan khi giá trị suất khẩu ước đạt 6,73 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2016; giá trị nhập khẩu đạt 1,14 tỷ USD, tăng 29,8%.
Theo báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 10/2017 (số liệu tính đến 15/10/2017) của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng nuôi trồng thủy sản 10 tháng đầu năm đạt 3.173 ngàn tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác hải sản đạt 2.718 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ 2016.
Giá cá tra và giá tôm nguyên liệu tăng mạnh trong thời gian qua nhờ nhu cầu thu mua nguyên liệu để chế biến xuất khẩu từ các doanh nghiệp tăng phục vụ các đơn hàng cuối năm, trong khi nguồn cung hạn chế.
Theo đó, giá trị xuất khẩu thủy sản 10 tháng năm 2017 ước đạt 6,73 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2016; giá trị nhập khẩu đạt 1,14 tỷ USD, tăng 29,8%.
Trong phương án đơn giản hóa đối với nhóm thủ tục hành chính liên quan đến sản xuất, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật trên cạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) dự kiến sẽ bãi bỏ 12 thủ tục hành chính và quy định trong lĩnh vực này.
Các thủ tục và quy định này nằm rải rác trong nhóm thủ tục hành chính (TTHC) từ khi nuôi/sử dụng con giống đến phân phối, xuất khẩu. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tổng số có 83 TTHC trong nhóm này. Trong đó: Lĩnh vực Chăn nuôi có 23 TTHC, lĩnh vực Thú y có 43 TTHC và lĩnh vực Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản có 17 TTHC.
Trong số 12 thủ tục xem xét bãi bỏ gồm 7 thủ tục ở lĩnh vực Chăn nuôi, 1 thủ tục trong lĩnh vực Thú y và 4 thủ tục của lĩnh vực Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản.
Lĩnh vực Nông lâm sản và Thủy sản dự kiến bãi bỏ 4 thủ tục
Một số thủ tục điển hình được xem xét bãi bỏ như: Cấp giấy phép nhập khẩu giống vật nuôi ngoài danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất, kinh doanh; Cấp giấy phép nhập khẩu tinh, phôi giống vật nuôi; Kiểm tra giảm chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có thời hạn; Các thủ tục về thẩm định điều kiện vệ sinh thú y (được quy định các dạng cơ sở cụ thể) do Trung ương và địa phương quản lý...
Nhiều thủ tục trong sản xuất, kinh doanh chăn nuôi được bãi bỏ
Ngoài 12 thủ tục đề nghị bãi bỏ trong nhóm thủ tục liên quan đến sản xuất, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật trên cạn, Bộ NN&PTNT đang dự kiến đơn giản hóa 49 thủ tục khác trong lĩnh vực này. Ước tính tỷ lệ cắt giảm sau đơn giản hóa TTHC nhóm này khoảng 27%, tổng chi phí tuân thủ TTHC tiết kiệm được hơn 483 tỷ đồng/năm.
Mặc dù Việt Nam là một trong các quốc gia mạnh về sản xuất thức ăn chăn nuôi, tuy nhiên một thực trạng đáng buồn cho thấy chúng ta vẫn phải nhập một lượng lớn nguyên liệu để sản xuất TACN do giá thành sản xuất cao và nguồn cung vẫn chưa đáp ứng đủ các nhu cầu của thị trường.
Số liệu của Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại, Bộ Công Thương cho thấy, trong 15 ngày đầu tháng 8/2016, nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu đạt 141,87 triệu USD, giảm 21,7% so với cùng kỳ tháng trước. Lũy kế từ đầu năm đến hết ngày 15/8/2016, kim ngạch nhập khẩu mặt hàng này đạt 1,95 tỷ USD, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm 2015.
Cụ thể, nhập khẩu ngô đạt 194,8 nghìn tấn, trị giá 39,9 triệu USD, giảm 17,8% về lượng và giảm 16,5% về trị giá so với 15 ngày đầu tháng 7/2016; giá ngô nhập khẩu bình quân đạt 205,1 USD/tấn, tăng 3,4 USD/tấn so với tháng trước.
Ảnh minh họa.
Nhập khẩu đậu tương đạt 30,8 nghìn tấn, trị giá 14,7 triệu USD, giá đậu tương nhập khẩu bình quân đạt 476,6 USD/tấn, tăng 12,7 USD/tấn so với cùng kỳ tháng trước.
Về thị trường nhập khẩu, trong tháng 7/2016, Việt Nam nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu chủ yếu từ thị trường Argentina, đạt 149,1 triệu USD; lũy kế 7 tháng đầu năm đạt 820,5 triệu USD.
Tiếp theo là thị trường Trung Quốc với 60,3 triệu USD, tăng gấp đôi so với tháng 6/2016, lũy kế từ đầu năm tăng 38,1% so với cùng kỳ năm trước.
Xếp vị trí thứ ba về kim ngạch là thị trường Hoa Kỳ với 46,07 triệu USD, tăng 73% so với tháng trước, tuy nhiên lũy kế vẫn giảm 34,8% so với cùng kỳ năm 2015.
Như vậy, tính đến hết tháng 7/2016, Nhật Bản là hai thị trường dẫn đầu về tăng trưởng kim ngạch, tăng 149,2% so với năm 2015.
Ngành chăn nuôi của Việt Nam hiện đang đối mặt với tình trạng phụ thuộc lớn vào nhập khẩu từ nước ngoài. Trong số các nhà máy đang hoạt động, sản xuất trong nước có 59 nhà máy là của các liên doanh và doanh nghiệp đầu tư trực tiếp vốn nước ngoài FDI, ít hơn so với số nhà máy chế biến của các doanh nghiệp trong nước (180) nhà máy tuy nhiên, công suất lớn, chiếm thị phần cao hơn nhiều so với doanh nghiệp trong nước.
Đánh giá của Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho biết, Việt Nam không có lợi thế trồng các loại cây trồng cho thức ăn chăn nuôigia súc như đậu tương, ngô so với các nước, các cây trồng biến đổi gen cũng cho năng suất thấp và ít được ứng dụng đại trà. Trong khi đó, các doanh nghiệp FDI nhập khẩu chủ yếu ở các nước như Hoa Kỳ, Brazil, Canada với số lượng lớn.
Với cách quy hoạch như hiện nay, theo dự báo của đại diện Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam, 20 thậm chí 30 năm, chăn nuôi trong nước vẫn không thoát khỏi việc lệ thuộc vào nguồn nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu.
Riêng với sản lượng đậu tương hiện tại, đại diện Hiệp hội Chăn nuôi Việt Nam cho rằng, sản lượng không đủ để phục vụ nhu cầu cho người, chưa nói tới làm nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Chăn nuôi gia súc hàng năm cần 4 - 5 triệu tấn khô dầu các loại thì hầu như phải phải nhập khẩu 100%. Tương tự, ngô cũng thường xuyên thiếu phải nhập khẩu khoảng 50%.
Thức ăn chăn nuôi là mắt xích quan trọng để phát triển ngành chăn nuôi, vốn đang được coi là giải pháp đảm bảo an ninh lương thực trên toàn thế giới. Tuy nhiên, xét về thị phần hiện nay, các doanh nghiệp (DN ) ngoại đang chiếm 60 – 65% tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi sản xuất ra tại Việt Nam. Điều này là một thực trạng đáng buồn mà các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi Việt Nam đang gặp phải.
Sau cuộc giải cứu ngành chăn nuôi lợn, tại Đồng Nai – thủ phủ chăn nuôi, cũng như nhiều tỉnh thành trên cả nước, giá thịt lợn hơi đang nhích gần về mức trung bình 30.000 đồng/kg. Tuy nhiên, theo ông Âu Thanh Long, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ, với mức giá trên, người chăn nuôi vẫn gặp khó. Một trong nhiều nguyên nhân là do chi phí đầu vào của ngành chăn nuôi tương đối cao.
Nhập khẩu nguyên liệu
Theo đó, phải kể tới giá thức ăn chăn nuôi (TĂCN) bị đội giá vì Việt Nam chưa tự cung được nguồn nguyên liệu, hầu hết vẫn nhập khẩu. Dẫn tới, theo Bộ Công Thương, so với các nước trong khu vực, giá TĂCN ở Việt Nam luôn cao hơn khoảng 15 – 20% khiến các sản phẩm chăn nuôi của Việt Nam khó cạnh tranh. Một trong những nguyên nhân dẫn đến giá TĂCN trong nước luôn cao chính là việc ngành TĂCN nội địa phụ thuộc phần lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.
Theo ông Đoàn Xuân Trúc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Chăn nuôi Việt Nam, hiện nay cả nước có 207 nhà máy sản xuất TĂCN với công suất sản lượng hơn 22,2 triệu tấn/năm, nhưng chúng ta phải nhập khẩu một khối lượng nguyên liệu không hề nhỏ để sản xuất TĂCN.
Mới đây, Tổng cục Hải quan cho biết, nhập khẩu nguyên liệu TĂCN và nguyên liệu trong tháng 6/2017 đạt 333 triệu USD, tăng 27,5% so với tháng trước đó và tăng 6,57% so với cùng kỳ năm 2016. Tính chung, trong sáu tháng đầu năm 2017, Việt Nam đã chi gần 1,8 tỷ USD nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu, tăng 17,27% so với cùng kỳ năm 2016.
So với các nước trong khu vực, giá TACN của Việt nam thường cao hơn 15- 20%
Theo đó, trong sáu tháng đầu năm 2017, nhập khẩu TĂCN và nguyên liệu của Việt Nam từ một số thị trường có kim ngạch tăng trưởng mạnh, cụ thể Italia với hơn 45 triệu USD, tăng 952,87% so với cùng kỳ; Canada với hơn 27 triệu USD, tăng 308,41% so với cùng kỳ…
Điều này cho thấy, ở Việt Nam, tình trạng thiếu nguồn nguyên liệu TĂCN và phải nhập khẩu số lượng lớn TĂCN đã diễn ra từ lâu, trong khi TĂCN chiếm tới 60% chi phí sản xuất và giá thành.
Theo Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam, Việt Nam chỉ tự túc được khoảng 40% nguyên liệu chế biến thức ăn công nghiệp, còn 60% là nhập khẩu. Hiện nay, 100% ngô nhập về dùng cho sản xuất TĂCN; đậu nành hạt nhập về để ép lấy dầu, còn 80% bã dùng cho chăn nuôi; khoảng 20% sản lượng lúa mì nhập khẩu phục vụ ngành chăn nuôi. Việt Nam chỉ chủ động được nguồn cám gạo, khoai mì, còn lại phụ thuộc vào nhập khẩu.
Chi phối giá
Lý giải nguyên nhân, ông Lê Bá Lịch, Chủ tịch Hiệp hội TĂCN Việt Nam, cho hay, thời gian qua, giá các loại nguyên liệu như ngô, đậu nành đều giảm do được mùa và Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng trên vào nước này. Vì vậy, chuyện các DN TĂCN nhập khẩu nguyên liệu là điều dễ hiểu, nhất là giữa tình hình nguồn cung trong nước chưa đáp ứng được.
Đặc biệt, theo Bộ NN&PTNT, Việt Nam hiện có 5 DN lớn sản xuất TĂCN là Dabaco, Masan, GreenFeed, Vina và Lái Thiêu chiếm 23% thị phần; 5 DN FDI lớn nhất là CP, Deheus, ANT, Jafa comfeed và Cargill chiếm 37% thị phần, cho nên đã chọn cách nhập khẩu nguyên liệu sản xuất TĂCN để tối ưu lợi nhuận.
Trong khi đó, Việt Nam đang đứng thứ 17 trong top 20 quốc gia sản xuất TĂCN lớn nhất thế giới, nhưng với nhu cầu TĂCN khoảng 18 – 20 triệu tấn/năm, hoạt động sản xuất trong nước hiện nay gần như mới chỉ đáp ứng được nhu cầu nội địa.
Tuy nhiên, vì số lượng nhà máy sản xuất TĂCN trong nước có hạn, năng lực tự sản xuất còn khiêm tốn nên Việt Nam vẫn bị các DN nước ngoài thao túng do không làm chủ được công nghệ sản xuất.
Trên thực tế, dù sở hữu ít nhà máy hơn nhưng DN FDI chiếm đến 60 – 65% tổng sản lượng TĂCN sản xuất ra và vẫn tiếp tục đầu tư mở rộng sản xuất, còn khối tư nhân nhà nước chỉ chiếm khoảng 35 – 40% trong tổng sản lượng song ngày càng co hẹp.
Trước việc các DN FDI đang chiếm lĩnh thị trường, giới chuyên gia cảnh báo, rủi ro lớn về biến động giá và tỷ giá, cộng với tỷ lệ chiết khấu hoa hồng cao của các DN FDI cho đại lý sẽ đẩy giá TĂCN gia tăng; hơn nữa, với việc nắm chi phối thị phần TĂCN sẽ giúp các DN ngoại dễ dàng định giá và tăng giá TĂCN hơn.
Hiện tại, trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi có hai hình thức phân phối chính: tiêu thụ thông qua hệ thống đại lý cấp 1, 2 từ công ty đến hộ chăn nuôi chiếm tới 90% sản lượng TĂCN sản xuất và tiêu thụ thông qua hình thức gia công chăn nuôi cho công ty chiếm khoảng 10% sản lượng TĂCN sản xuất.
Và cho dù một số công ty sản xuất TĂCN thực hiện bán hàng trực tiếp đến hộ chăn nuôi không qua hệ thống đại lý như: Anco, Hùng Vương, Proconco… nhằm cắt giảm tối đa chi phí giá thành, gia tăng năng lực cạnh tranh, nhất là giá bán với các đối thủ FDI, song con số này vẫn còn rất khiêm tốn.
Việc làm hợp quy trong thức ăn chăn nuôi có thể giúp doanh nghiệp nâng tầm thương hiệu và hướng tới xuất khẩu ra thế giới chứ không chỉ dừng trong thị trường nội địa.
Diện tích trồng bắp trong nước hiện dao động hơn 1 triệu ha, tuy nhiên, năng suất trung bình còn khá thấp, chỉ ở mức 4,6 tấn/ha. Điều này dẫn đến nghịch cảnh Việt Nam là một nước nông nghiệp, nhưng tỉ lệ nhập khẩu ngô để làm thức ăn chăn nuôi là rất cao.
Hằng năm, Việt Nam vẫn phải chi một lượng lớn ngoại tệ để nhập khẩu bắp hạt về phục vụ nhu cầu chế biến thức ăn chăn nuôi trong nước. Đó chính là mâu thuẫn nội tại của ngành trồng trọt, khi mà gạo thì xuất khẩu, thậm chí xuất khẩu khó khăn còn bắp thì nhập khẩu chiếm giá trị lớn trên 1,65 tỉ USD trong năm 2016. Ông Trần Xuân Định, Cục phó Cục Trồng trọt, cho biết giá bắp nhập khẩu giảm mạnh trong những năm gần đây khiến tổng lượng nhập khẩu bắp về Việt Nam tăng nhanh, cụ thể năm 2016, Việt Nam nhập 8,3 triệu tấn. Điều này tạo ra áp lực rất lớn đối với nông dân trồng bắp trong nước.
Tăng năng suất
Được biết cây bắp vẫn là cây lương thực quan trọng. Với nhu cầu thực phẩm, thức ăn chăn nuôi ngày một tăng như hiện nay, việc chủ động về nguồn cung sẽ giúp bảo đảm an ninh lương thực, đồng thời tránh khỏi tình trạng bị phụ thuộc và thất thoát ngoại tệ khi phải nhập khẩu bắp. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn định hướng duy trì diện tích canh tác như hiện tại nhưng tăng cao giá trị và sản lượng trên mỗi đơn vị diện tích canh tác. Theo đó, khuyến khích ứng dụng các loại giống mới, phương pháp canh tác tiên tiến và đẩy mạnh cơ giới hóa. Năng suất bắp trung bình của Việt Nam còn đang ở mức rất thấp do điều kiện canh tác không thuận lợi, địa hình khó khăn, việc ứng dụng các giống mới kháng lại các tác nhân bất thuận sẽ giúp bảo đảm năng suất tiềm năng và nhờ đó nâng cao sản lượng và chất lượng bắp sau thu hoạch. Việc đưa các giống công nghệ sinh học vào sản xuất trong những năm gần đây bước đầu tạo ra các tín hiệu tích cực khi năng suất và thu nhập của nông dân trồng bắp được cải thiện rõ rệt.
Cần có những biện pháp thiết thực để tăng năng suất trồng ngô hiện tại.
Theo Viện Chính sách và Phát triển nông nghiệp nông thôn (IPSARD), việc hình thành các chuỗi giá trị khép kín trong sản xuất bắp sẽ là giải pháp chủ yếu giúp nâng cao tính cạnh tranh của bắp Việt Nam. Năng suất bắp tại Việt Nam còn ở mức khá thấp so với thế giới và chỉ đủ đáp ứng khoảng 40%-50% nhu cầu tiêu thụ trong nước nên phải nhập khẩu để bù đắp lượng thiếu hụt. Dự đoán nhu cầu về thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới, đến năm 2020, Việt Nam sẽ cần khoảng 9 triệu tấn bắp và sản xuất trong nước vẫn sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu. Đồng thời quá trình hội nhập, thuế nhập khẩu đối với bắp sẽ có xu hướng giảm. Tất cả nhân tố trên sẽ tạo áp lực rất lớn cho sản xuất trong nước.
Cung không đủ cầu
Để tăng sức cạnh tranh, vấn đề cốt lõi đó là nâng cao chất lượng sản xuất bắp đồng thời tổ chức lại sản xuất, giảm bớt can thiệp của quá nhiều tác nhân trung gian tham gia vào chuỗi giá trị. Mô hình tổ nhóm hợp tác xã kết nối trực tiếp với doanh nghiệp được đưa ra như một giải pháp quan trọng, trong đó nông dân liên kết sản xuất, doanh nghiệp trực tiếp hỗ trợ về phương tiện, giống, kỹ thuật canh tác và bảo đảm xử lý, bao tiêu sau thu hoạch.
Được biết Việt Nam nằm trong nhóm các nước có mức tiêu thụ bắp lớn nhất thế giới, với tỉ lệ tăng trưởng qua các năm hơn 12%. Hiện tại, thị trường châu Mỹ đang là nơi xuất khẩu bắp chính sang châu Á, châu Phi và các khu vực khác. Đáng chú ý là mức độ nhập khẩu tại tất cả châu lục đều tăng qua các năm và dự báo đến năm 2020, mức tiêu thụ bắp toàn cầu sẽ khoảng 1.074 triệu tấn (năm 2016 là 1.021 triệu tấn), trong đó châu Á và châu Phi sẽ tăng 20%. Với năng suất như hiện nay (năm 2016 thế giới sản xuất được khoảng khoảng 1.040 triệu tấn), đến năm 2050, sản xuất bắp thế giới sẽ không đủ để đáp ứng nhu cầu, đồng nghĩa với việc nguồn cung về bắp sẽ không còn dư thừa đề xuất khẩu sang các thị trường còn thiếu như châu Á, trong đó có Việt Nam. Nếu không sớm có các phương án để chủ động tốt hơn về sản xuất ngô nội địa, Việt Nam sẽ gặp khó theo xu hướng này. Bài toán của Việt Nam và nhiều nước trồng bắp khác hiện nay đó là cần gia tăng năng suất trên diện tích sẵn có để gia tăng sản lượng.
Ông Dương Gia Định, Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật và trồng trọt tỉnh Sơn La, cho biết bắp là cây trồng chủ lực của tỉnh và là nguồn thu nhập chính của nông dân. Diện tích trồng bắp hiện tại của tỉnh khoảng 152.000 ha, tuy nhiên, năng suất rất thấp do gặp nhiều khó khăn trong quá trình sản xuất và sự không đồng đều giữa các vùng, thường đạt mức 3,89 tấn/ha gần như thấp nhất cả nước. Năm 2017, diện tích giảm 4,7% so với cùng kỳ năm trước do gặp nhiều khó khăn đến từ điều kiện canh tác và xu hướng giá bắp thương phẩm giảm. Xử lý bắp sau thu hoạch cũng là một trong những quan ngại lớn của tỉnh, các hộ nông dân thường chỉ bán bắp tươi, bán ngay tại ruộng cho thương lái với điều kiện phơi sấy rất hạn chế. Chất lượng bắp thương phẩm vì thế không được bảo đảm. Đây là tình hình chung tại các vùng trồng bắp trên cả nước.
Theo Bộ NN&PTNT, đàn trâu, bò cả nước trong tháng 11/2017 nhìn chung không có biến động lớn. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017 của Tổng cục Thống kê, đàn trâu cả nước có 2,49 triệu con, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2016; đàn bò có 5,6 triệu con, tăng 2,6%. Tình hình chăn nuôi lợn vẫn gặp khó khăn, thị trường tiêu thụ trong tháng chưa có nhiều chuyển biến tích cực, giá bán sản phẩm vẫn ở mức thấp khiến quy mô đàn tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Ước tính đàn lợn cả nước có 27,3 triệu con, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm 2016.
Chăn nuôi trâu, bò:Đàn trâu, bò cả nước trong tháng nhìn chung không có biến động lớn. Trong tháng các ổ dịch lở mồm long móng xảy ra trong phạm vi nhỏ lẻ ở một số tỉnh nhưng vẫn cần những biện pháp phòng dịch và kiểm soát vận chuyển nghiêm túc để tránh nguy cơ mầm bệnh phát sinh tại các vùng khác. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017 của Tổng cục Thống kê, đàn trâu cả nước có 2,49 triệu con, giảm 1,1% so với cùng kỳ năm 2016; đàn bò có 5,6 triệu con, tăng 2,6%.
Chăn nuôi lợn:Thị trường tiêu thụ trong tháng chưa có nhiều chuyển biến tích cực, giá bán sản phẩm vẫn ở mức thấp khiến quy mô đàn tiếp tục giảm so với cùng kỳ. Nhiều hộ chăn nuôi hiện nay phải kết hợp sử dụng thức ăn công nghiệp và thức ăn thô hộ tự sản xuất, nhằm tiết kiệm một phần chi phí trong chăn nuôi. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn lợn cả nước có 27,3 triệu con, giảm 6,2% so với cùng kỳ năm 2016.
Chăn nuôi gia cầm: Đàn gia cầm cả nước nhìn chung tiếp tục phát triển ổn định. Tuy vậy trong tháng, thời tiết mưa nắng xen kẽ dễ làm phát sinh các loại dịch bệnh ở gia cầm nên công tác phòng chống dịch bệnh cho các loại vật nuôi vẫn cần quan tâm và theo dõi chặt chẽ. Theo kết quả sơ bộ điều tra chăn nuôi kỳ 01/10/2017, đàn gia cầm cả nước ước có 385,2 triệu con, tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2016.
Chế biến thịt gia súc, gia cầm: C ác cơ sở giết mổ, chế biến thịt qui mô công nghiệp chỉ sử dụng được khoảng 30% công suất. Các công ty đang tăng cường liên kết chuỗi trong chăn nuôi, chế biến để xuất khẩu thịt an toàn, đáp ứng yêu cầu các nước nhập khẩu (thịt lợn, thịt gà). Việc kiểm soát chất lượng thịt tại cơ sở giết mổ đang gặp khó khăn để cung cấp cho thị trường các thành phố lớn (tiêm thuốc an thần cho heo; khó khăn trong việc truy xuất nguồn gốc sản phẩm).
Dịch bệnh: Theo Cục Thú y – Bộ NN&PTNT, tính đến thời điểm 26/11/2017, tình hình dịch bệnh trong cả nước như sau:
Dịch Cúm gia cầm (CGC)
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch Cúm gia cầm.
Dịch Lở mồm long móng gia súc (LMLM)
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước có 04 ổ dịch LMLM chưa qua 21 ngày tại xã (Gia Phố, Phú Phong, Hương Xuân) thuộc huyện Hương Khê của tỉnh Hà Tĩnh và 01 ổ dịch tại xã Quảng Điền huyện Krông Ana tỉnh Đắk Lắk.
Dịch Tai xanh trên lợn
Trong ngày, không có báo cáo ổ dịch mới phát sinh từ các địa phương.
Hiện nay, cả nước không có dịch Tai xanh.
Nhận định tình hình dịch
Cúm gia cầm: Nguy cơ dịch phát sinh và lây lan trong thời gian tới là rất cao. Một số chủng vi rút cúm gia cầm chưa có ở Việt Nam (A/H7N9, A/H5N2, A/H5N8) có nguy cơ xâm nhiễm vào trong nước thông qua các hoạt động vận chuyển, buôn bán, tiêu thụ gia cầm và sản phẩm gia cầm nhập lậu, không rõ nguồn gốc, nhất là đối với các tỉnh biên giới phía Bắc và các tỉnh, thành phố khác có tiêu thụ gia cầm, sản phẩm gia cầm nhập lậu. Các địa phương cần chủ động trong công tác phòng, chống Cúm gia cầm; tăng cường kiểm soát và xử lý nghiêm việc nhập lậu gia cầm, giám sát chặt địa bàn để phát hiện và xử lý ổ dịch kịp thời.
Lở mồm long móng: Các ổ dịch chủ yếu xảy ra tại các đàn gia súc chưa được tiêm phòng vắc xin LMLM hoặc do gia súc mắc bệnh được vận chuyển từ vùng có dịch. Do đó, các địa phương thuộc khu vực có nguy cơ cao, nơi có ổ dịch cũ, có đàn gia súc chưa được tiêm phòng triệt để, đặc biệt các địa phương có dự án cung ứng con giống gia súc, xóa đói giảm nghèo cần tăng cường giám sát, phát hiện sớm ổ dịch, tổ chức tiêm phòng vắc xin LMLM, kiểm soát chặt việc vận chuyển gia súc, quản lý giết mổ gia súc để giảm thiểu nguy cơ phát sinh, lây lan dịch.
Tai xanh trên lợn: Trong thời gian tới, có thể xuất hiện các ổ dịch nhỏ lẻ trên địa bàn có ổ dịch cũ và khu vực có nguy cơ cao. Các địa phương cần tăng cường giám sát dịch bệnh trên đàn lợn, phát hiện sớm ổ dịch, thực hiện nghiêm các qui định về kiểm dịch vận chuyển lợn và các sản phẩm của lợn, tăng cường kiểm soát giết mổ lợn, chủ động ngăn chặn dịch phát sinh và lây lan.
Các địa phương căn cứ tình hình dịch bệnh trên địa bàn, thông báo của Cục Thú y về lưu hành vi rút Cúm gia cầm, Tai xanh và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2016 (văn bản số 2151/TY-DT ngày 24/10/2016) và thông báo lưu hành vi rút LMLM và hướng dẫn sử dụng vắc xin năm 2017 (công văn số 2168 /TY-DT ngày 05/10/2017) để tổ chức mua đúng loại vắc xin phòng, chống dịch nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
THỊ TRƯỜNG CHĂN NUÔI TRONG NƯỚC
Giá lợn hơi trên địa bàn cả nước tháng qua biến động tăng nhẹ 1.000 – 2.000 đ/kg phổ biến trong khoảng 27.000 – 30.000 đ/kg so với tháng trước. Tuy nhiên, mức giá này đã giảm từ 2.000 – 4.000 đ/kg so với hồi tháng 9/2017. Tại khu vực phía Bắc, các tỉnh đang có giá lợn hơi cao nhất là Hà Nội, Thái Bình, Quảng Ninh, Hưng Yên, Bắc Giang với giá từ 28.000 – 30.000 đ/kg. Tại các tỉnh như Yên Bái, Phú Thọ, Hà Nam…, giá lợn hơi hiện khoảng 27.000 đ/kg. Tại thị trường Đồng Nai – thủ phủ chăn nuôi lợn, gà lớn nhất khu vực Đông Nam Bộ, giá lợn loại 1 hiện đang duy trì từ 29.000 – 30.000 đ/kg, tuy nhiên lợn thường thì chỉ đạt mức 26.000 – 27.000 đ/kg, giảm khoảng 2.000 – 4.000 đ/kg so với hồi tháng 9/2017.
Giá thu mua gà thịt lông trắng khu vực Đông Nam Bộ và ĐBSCL biến động tăng do nhu cầu tiêu dùng khởi sắc: giá tăng 6.000 – 7.000 đ/kg lên 29.000 – 30.000 đ/kg so với tháng 10/2017. Tuy nhiên, giá gà thịt lông màu tại 2 khu vực lại giảm 5.000 – 6.000 đ/kg xuống mức 33.000 – 35.000 đ/kg so với tháng trước do nhu cầu tiêu thụ đang chậm lại. Giá trứng gà tăng 300 – 350 đ/quả lên 1.750 – 1.800 đ/quả; giá trứng vịt tăng 200 đ/quả lên 2.100 – 2.200 đ/quả.
Heo
Gà lông màu
Gà lông trắng
Vịt siêu thịt
03/01/13
43.000
47.000
32.000
50.000
07/01/13
43.000
47.000
32.000
48.000
09/01/13
44.000
47.000
33.000
48.000
11/01/13
43.000
49.000
32.000
48.000
14/01/13
43.000
49.000
32.000
48.000
15/01/13
43.000
49.000
32.000
48.000
16/01/13
43.500
48.000
32.000
48.000
17/01/13
43.500
50.000
32.000
51.000
18/01/13
43.500
52.000
32.000
51.000
21/01/13
43.500
52.000
32.000
51.000
23/01/13
43.500
52.000
32.000
51.000
25/01/13
43.500
52.000
27.000
48.000
28/01/13
43.500
52.000
27.000
48.000
30/01/13
43.500
52.000
24.000
48.000
31/01/13
43.500
52.000
24.000
48.000
01/02/13
43.500
48.000
24.000
48.000
04/02/13
42.000
46.000
24.000
46.000
06/02/13
42.000
46.000
24.000
46.000
19/02/13
41.000
49.000
32.500
44.000
22/02/13
41.000
51.000
32.500
41.000
25/02/13
41.000
51.000
35.000
41.000
28/02/13
40.000
51.000
35.000
41.000
04/03/13
40.000
46.000
33.000
39.000
06/03/13
39.000
42.000
31.000
37.000
09/03/13
38.000
40.000
31.000
35.000
12/03/13
38.000
38.000
35.000
37.000
15/03/13
38.000
35.000
33.500
37.000
18/03/13
38.000
34.000
35.500
37.000
22/03/13
38.000
36.000
35.500
37.000
26/03/13
38.000
37.000
36.500
35.000
29/03/13
38.000
39.000
37.500
35.000
02/04/13
38.000
37.500
38.500
35.000
05/04/13
39.000
39.000
38.500
35.000
10/04/13
39.000
40.000
38.500
35.000
16/04/13
38.000
44.000
37.000
35.000
21/04/13
38.000
44.000
37.000
35.000
24/04/13
38.000
43.000
38.000
35.000
26/04/13
38.000
43.000
28.000
35.000
02/05/13
38.000
40.000
20.000
32.000
06/05/13
38.000
37.000
19.000
31.000
08/05/13
38.000
37.000
19.000
30.000
13/05/13
38.000
36.000
20.000
30.000
16/05/13
38.000
33.000
22.000
30.000
20/05/13
38.000
29.000
18.000
30.000
24/05/13
40.500
29.000
16.000
30.000
27/05/13
40.500
28.000
17.000
31.500
31/05/13
40.500
28.000
21.000
31.500
03/06/13
40.500
28.000
22.000
31.500
04/06/13
40.500
28.000
26.000
31.500
07/06/13
42.000
28.000
28.000
34.000
12/06/13
42.000
28.000
28.000
34.000
18/06/13
42.000
28.000
27.000
34.000
21/06/13
40.500
27.000
23.000
34.000
25/06/13
41.000
27.000
27.000
38.000
28/06/13
41.000
26.000
26.000
40.000
01/07/13
41.000
26.000
26.000
40.000
07/07/13
40.000
28.000
31.000
40.000
10/07/13
40.000
28.000
31.000
40.000
12/07/13
40.000
32.000
32.000
40.000
16/07/13
40.000
33.000
32.000
40.000
19/07/13
40.000
40.000
35.000
40.000
22/07/13
41.500
38.000
35.000
45.000
24/07/13
41.500
36.000
35.000
45.000
26/07/13
42.000
35.000
35.000
45.000
30/07/13
43.000
34.000
35.000
46.000
02/08/13
43.000
34.000
31.000
46.000
05/08/13
44.000
36.000
32.000
50.000
08/08/13
44.000
38.000
32.000
50.000
13/08/13
44.000
40.000
32.000
48.000
16/08/13
44.000
44.000
32.000
48.000
20/08/13
45.000
45.000
32.000
48.000
23/08/13
46.000
45.000
32.000
48.000
26/08/13
46.000
43.000
32.000
51.000
30/08/13
47.000
40.000
32.000
51.000
04/09/13
47.000
40.000
33.000
51.000
06/09/13
47.000
40.000
33.000
49.000
09/09/13
46.000
42.000
34.000
49.000
13/09/13
46.000
42.000
34.000
50.000
17/09/13
46.000
42.000
34.000
50.000
20/09/13
46.000
40.000
37.000
50.000
23/09/13
46.000
41.000
38.500
48.000
26/09/13
47.000
41.000
35.000
48.000
02/10/13
46.000
43.000
37.000
46.000
04/10/13
46.000
45.000
37.000
46.000
08/10/13
47.000
45.000
37.000
47.000
11/10/13
47.000
45.000
37.000
47.000
14/10/13
47.000
46.000
38.000
42.000
17/10/13
47.000
46.000
38.000
42.000
18/10/13
47.000
45.000
38.000
41.000
22/10/13
47.000
44.000
34.000
39.000
25/10/13
46.000
44.000
34.000
39.000
28/10/13
46.000
44.000
31.000
36.000
01/11/13
46.000
43.000
30.000
36.000
04/11/13
47.500
42.000
29.000
35.000
08/11/13
48.000
39.000
27.000
35.000
12/11/13
48.000
39.000
27.000
35.000
15/11/13
47.000
38.000
23.000
35.000
19/11/13
47.000
38.000
23.000
35.000
22/11/13
47.000
38.000
27.000
35.000
28/11/13
48.500
38.000
30.000
33.000
02/12/13
48.500
38.000
30.000
33.000
05/12/13
50.000
44.000
30.000
33.000
11/12/13
50.000
40.000
27.000
33.000
17/12/13
50.000
39.000
25.000
32.000
20/12/13
50.000
39.000
25.000
32.000
24/12/13
49.000
38.000
26.000
31.000
27/12/13
49.000
38.000
29.000
34.000
30/12/13
49.000
35.000
29.000
34.000
07/01/14
49.000
35.000
23.000
33.000
09/01/14
51.000
35.000
19.000
33.000
13/01/14
51.000
32.000
20.000
35.000
15/01/14
51.000
31.000
18.000
34.000
17/01/14
49.500
35.000
19.000
34.000
21/01/14
48.500
37.000
17.000
32.000
24/01/14
48.500
39.000
22.000
33.000
07/02/14
47.500
37.000
16.000
33.000
11/02/14
47.500
37.000
26.000
33.000
14/02/14
47.500
32.000
31.000
33.000
18/02/14
46.500
31.000
33.000
34.000
21/02/14
47.500
30.000
34.000
34.000
25/02/14
48.500
27.000
31.000
33.000
28/02/14
49.000
26.000
25.000
32.000
04/03/14
49.000
26.000
29.000
32.000
05/03/14
51.000
26.000
29.000
33.500
07/03/14
51.000
23.000
31.500
33.500
11/03/14
51.000
28.000
33.000
33.500
14/03/14
52.500
30.500
30.500
33.500
18/03/14
51.500
31.500
28.500
33.500
21/03/14
51.500
33.000
28.500
33.500
22/03/14
51.500
33.000
28.500
33.500
25/03/14
51.500
34.000
32.500
35.000
28/03/14
51.500
38.000
32.500
33.500
01/04/14
52.500
33.000
27.000
37.000
04/04/14
52.500
34.000
27.000
37.000
08/04/14
53.000
37.000
28.000
43.000
11/04/14
53.000
38.000
29.500
43.000
15/04/14
54.000
38.000
26.500
43.000
18/04/14
54.000
40.000
27.500
43.000
22/04/14
55.000
42.000
25.500
38.000
25/04/14
55.000
42.000
25.500
38.000
29/04/14
54.500
42.000
26.500
38.000
06/05/14
55.000
43.500
29.500
39.000
09/05/14
55.000
42.500
30.500
37.000
13/05/14
54.000
42.500
32.500
37.000
16/05/14
55.000
43.500
33.000
37.000
20/05/14
56.500
46.000
34.500
39.000
23/05/14
56.500
49.000
36.500
39.000
27/05/14
56.500
49.000
36.500
39.000
30/05/14
56.500
50.000
36.500
41.000
03/06/14
56.600
51.000
37.000
43.000
06/06/14
56.500
51.000
37.000
43.000
10/06/14
56.500
49.000
39.000
43.000
13/06/14
56.500
48.000
39.000
43.000
20/06/14
56.000
43.000
38.000
45.000
24/06/14
56.000
39.000
37.000
45.000
27/06/14
55.000
38.000
37.000
45.000
01/07/14
55.000
36.000
35.500
45.000
04/07/14
55.000
35.000
35.500
45.000
08/07/14
55.000
34.000
31.500
45.000
11/07/14
55.000
36.000
27.000
52.000
15/07/14
55.000
38.000
28.000
52.000
18/07/14
55.000
40.000
27.000
54.000
22/07/14
55.000
42.000
27.000
56.000
25/07/14
55.000
42.000
27.000
56.000
29/07/14
55.000
43.000
31.000
56.000
01/08/14
55.000
43.000
34.000
56.000
05/08/14
55.000
44.000
36.000
56.000
08/08/14
55.000
44.000
35.000
56.000
12/08/14
55.000
43.000
36.000
54.000
15/08/14
55.000
41.000
36.000
54.000
19/08/14
55.000
41.000
34.500
54.000
26/08/14
55.000
37.000
34.000
54.000
29/08/14
55.000
36.000
34.000
55.000
02/09/14
55.000
39.000
34.000
55.000
05/09/14
55.000
39.000
26.000
54.000
09/09/14
55.000
40.000
27.000
54.000
12/09/14
55.000
40.500
29.000
52.000
16/09/14
55.000
41.000
30.000
50.000
19/09/14
55.000
41.000
30.000
40.000
23/09/14
55.000
43.000
31.500
37.000
26/09/14
54.000
44.000
31.500
36.000
30/09/14
54.000
44.000
31.500
35.000
03/10/14
53.000
44.000
33.500
35.000
07/10/14
53.000
44.000
35.500
35.000
10/10/14
53.000
45.000
35.500
35.000
14/10/14
53.000
45.000
36.000
35.000
17/10/14
53.000
46.000
36.000
35.000
21/10/14
52.000
46.000
35.500
35.000
27/10/14
51.500
46.000
31.000
32.000
04/11/14
51.000
42.000
26.000
32.000
11/11/14
50.000
40.000
27.500
30.000
18/11/14
50.000
40.000
28.000
30.000
25/11/14
48.500
41.000
30.500
29.000
02/12/14
48.000
43.000
27.500
34.000
09/12/14
48.000
36.500
26.000
34.000
16/12/14
48.500
36.000
25.000
41.000
23/12/14
48.500
32.000
24.000
36.000
30/12/14
48.000
35.000
23.500
36.000
06/01/15
48.000
36.000
23.000
37.000
13/01/15
48.000
37.000
26.500
37.000
20/01/15
48.000
37.000
28.500
39.000
27/01/15
47.500
36.000
27.500
39.000
03/02/15
47.000
38.000
23.000
40.000
10/02/15
46.000
40.000
24.500
37.000
17/02/15
46.000
41.000
23.500
37.000
24/02/15
46.000
44.000
24.500
40.000
03/03/15
47.000
43.000
27.500
40.000
10/03/15
47.500
45.000
27.000
40.000
17/03/15
48.000
46.000
23.500
40.000
24/03/15
48.500
47.000
20.500
43.000
31/03/15
48.500
47.000
26.000
41.000
07/04/15
48.500
47.000
27.500
41.000
14/04/15
48.500
46.000
29.500
41.000
21/04/15
48.500
47.000
27.500
41.000
28/04/15
47.500
50.000
23.000
41.000
05/05/15
47.500
51.000
24.500
42.000
12/05/15
47.500
51.000
21.050
40.000
19/05/15
47.000
49.000
26.500
40.000
26/05/15
47.000
49.000
27.000
40.000
02/06/15
47.500
49.000
28.000
40.000
09/06/15
47.000
48.000
23.500
41.000
16/06/15
47.500
45.000
20.500
40.000
23/06/15
46.500
47.000
22.500
41.000
30/06/15
46.000
46.000
22.500
40.000
07/07/15
46.000
43.000
24.000
35.000
14/07/15
46.500
39.000
24.500
35.000
21/07/15
47.500
33.500
22.500
34.000
28/07/15
47.500
33.500
22.500
34.000
04/08/15
47.000
34.000
20.000
35.000
11/08/15
46.500
29.000
19.500
34.000
18/08/15
45.500
22.000
23.000
36.000
25/08/15
45.500
35.000
23.500
36.000
01/09/15
45.500
33.000
24.000
36.000
08/09/15
46.000
28.000
24.500
35.500
15/09/15
45.500
27.000
26.500
35.000
22/09/15
45.000
29.000
28.000
35.000
29/09/15
44.000
30.000
29.500
35.000
06/10/15
45.000
29.000
29.500
35.000
13/10/15
45.000
30.000
26.500
35.000
20/10/15
45.000
30.000
26.000
32.000
27/10/15
45.000
32.000
27.000
31.000
03/11/15
45.000
32.000
26.000
31.000
10/11/15
45.500
33.000
24.500
31.000
17/11/15
45.500
33.000
20.500
34.000
24/11/15
45.500
34.000
21.500
34.000
01/12/15
46.000
35.000
17.500
34.000
08/12/15
47.000
37.000
19.000
34.000
15/12/15
47.000
37.000
17.000
34.000
22/12/15
47.000
35.000
16.500
39.000
29/12/15
46.000
38.000
19.000
39.000
05/01/16
46.000
40.000
23.500
42.000
12/01/16
45.500
38.000
25.000
41.000
19/01/16
45.000
37.000
25.000
43.000
26/01/16
41.000
35.000
26.500
43.000
02/02/16
40.000
35.000
28.500
40.000
09/02/16
40.000
35.000
28.500
40.000
16/02/16
44.000
38.000
31.000
41.000
23/02/16
45.000
35.000
30.000
34.000
01/03/16
43.000
31.000
24.500
28.000
08/03/16
43.000
30.000
22.000
28.000
15/03/16
44.000
28.000
24.000
30.000
22/03/16
47.000
26.000
27.000
33.000
29/03/16
48.000
32.000
27.000
33.000
05/04/16
49.000
33.000
26.500
37.000
12/04/16
50.000
38.000
27.500
33.000
19/04/16
51.000
39.000
28.000
30.000
26/04/16
52.500
41.000
28.000
30.000
03/05/16
53.500
40.000
27.500
30.000
10/05/16
54.000
40.000
23.500
30.000
17/05/16
50.000
41.000
25.000
38.000
24/05/16
50.500
39.000
25.500
38.000
31/05/16
49.500
37.000
27.500
41.000
07/06/16
48.500
36.000
26.500
41.000
14/06/16
48.500
36.000
27.000
38.000
21/06/16
47.500
36.000
23.000
37.000
28/06/16
47.500
36.000
24.000
38.000
05/07/16
47.500
36.000
25.000
38.000
12/07/16
47.500
35.000
25.000
38.000
19/07/16
42.500
35.000
25.000
38.000
26/07/16
46.500
36.000
22.000
38.000
02/08/16
45.000
36.000
20.000
38.000
09/08/16
46.000
35.000
20.500
38.000
16/08/16
46.500
35.000
23.000
50.000
23/08/16
46.500
29.000
26.000
50.000
30/08/16
46.500
28.000
26.000
50.000
06/09/16
47.000
30.000
26.000
50.000
13/09/16
47.500
35.000
26.000
50.000
20/09/16
46.000
34.500
21.000
46.000
27/09/16
46.000
35.000
23.000
46.000
04/10/16
44.500
35.000
24.000
45.000
11/10/16
43.000
35.000
24.000
45.000
18/10/16
42.000
35.000
23.000
45.000
25/10/16
41.000
35.000
23.000
45.000
01/11/16
41.000
36.000
22.000
32.000
08/11/16
40.500
35.000
22.000
32.000
15/11/16
42.000
36.000
22.000
32.000
22/11/16
41.500
37.000
24.000
32.000
30/11/16
40.500
41.000
21.500
37.000
06/12/16
39.500
40.000
20.500
31.000
13/12/16
39.500
40.000
20.500
34.000
20/12/16
38.500
40.000
20.500
34.000
27/12/16
37.500
43.000
22.000
34.000
03/01/17
32.000
43.000
24.000
40.000
10/01/17
34.000
42.000
24.000
40.000
17/01/17
33.000
42.000
26.000
39.000
24/01/17
31.000
40.000
26.000
39.000
31/01/17
31.000
39.000
27.000
40.000
07/02/17
35.000
34.000
24.000
41.000
14/02/17
34.000
26.000
18.000
30.000
21/02/17
35.000
26.000
17.000
30.000
28/02/17
35.000
25.000
19.000
28.000
07/03/17
34.000
21.000
26.500
28.000
14/03/17
32.000
26.000
29.500
28.000
21/03/17
31.000
30.000
31.000
32.000
28/03/17
30.000
29.000
33.000
36.000
04/04/17
30.000
28.000
35.000
37.000
11/04/17
30.000
32.000
35.000
34.000
18/04/17
28.000
34.000
35.000
34.000
25/04/17
26.000
30.500
24.000
28.000
02/05/17
25.000
30.000
23.000
28.000
09/05/17
26.500
31.000
25.000
32.000
16/05/17
26.000
30.000
26.500
34.000
23/05/17
26.000
30.000
26.500
34.000
30/05/17
25.000
28.000
24.500
34.000
06/06/17
26.000
30.000
25.500
34.000
13/06/17
26.000
25.000
25.500
32.000
20/06/17
26.000
25.000
23.000
33.000
27/06/17
25.000
22.500
24.000
33.000
04/07/17
25.000
23.000
23.500
33.000
11/07/17
28.000
25.000
26.000
33.000
18/07/17
42.000
24.000
26.500
27.000
25/07/17
38.000
29.000
26.000
28.000
01/08/17
37.000
30.000
25.000
35.000
08/08/17
35.000
32.000
24.500
35.000
15/08/17
33.500
33.000
25.000
35.000
22/08/17
32.000
33.000
28.000
34.000
29/08/17
31.000
33.000
29.000
41.000
05/09/17
32.000
35.000
29.000
41.000
12/09/17
32.000
37.000
24.000
41.000
19/09/17
31.000
37.000
24.000
43.000
26/09/17
31.000
38.000
24.000
43.000
03/10/17
30.000
39.000
23.000
43.000
10/10/17
29.000
40.000
21.000
43.000
17/10/17
29.000
43.000
21.000
37.000
24/10/17
28.000
40.000
21.000
37.000
31/10/17
29.000
39.000
23.000
37.000
07/11/17
29.000
34.000
25.000
37.000
Biểu đồ: Diễn biến giá lợn, gà và vịt hơi (giá tại trại) tại các tỉnh phía Nam
THỊ TRƯỜNG NHẬP KHẨU
Theo Bộ NN&PTNT ước tình hình nhập khẩu TACN và nguyên liệu trong tháng 11/2017 như sau:
Thức ăn gia súc và nguyên liệu:
Ước giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu trong tháng 11/2017 ước đạt 175 triệu USD, đưa tổng giá trị nhập khẩu mặt hàng này 11 tháng đầu năm 2017 lên 2,9 tỷ USD, giảm 8,1% so với cùng kỳ năm 2016. Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng này trong 10 tháng đầu năm 2017 là Achentina (chiếm 48,3% thị phần), tiếp đến là Hoa Kỳ (7,2%), Trung Quốc (4,9%) và Ấn Độ (chiếm 4,2% thị phần). Trong đó, thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Canada (tăng hơn 6 lần) tiếp đến là các thị trường Ấn Độ và Indonesia với tỷ lệ tăng lần lượt là 73,6% và 15,3%. Ngược lại, giá trị nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu của thị trường Trung Quốc và Hoa Kỳ giảm mạnh, mức giảm lần lượt là 41,9% và 35%.
Đậu tương:
Ước khối lượng đậu tương nhập khẩu trong tháng 11/2017 đạt 166 nghìn tấn với giá trị 72 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu đậu tương 11 tháng đầu năm 2017 ước đạt 1,54 triệu tấn và 662 triệu USD, tăng 15,1% về khối lượng và tăng 16,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016.
Ngô:
Ước tính khối lượng ngô nhập khẩu trong tháng 11/2017 đạt 893 nghìn tấn với giá trị đạt 169 triệu USD, đưa khối lượng và giá trị nhập khẩu ngô 11 tháng đầu năm 2017 đạt 7,35 triệu tấn và 1,43 tỷ USD, giảm 1,5% về khối lượng và giảm 3,1% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Achentina và Braxin là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong 10 tháng đầu năm 2017, chiếm thị phần lần lượt là 52,9% và 25,8% tổng giá trị nhập khẩu của mặt hàng này. Trong 10 tháng đầu năm 2017, khối lượng nhập khẩu ngô tăng mạnh nhật tại thị trường Thái Lan gấp 13,4 lần so với cùng kỳ năm 2016 nhưng giá trị lại chỉ gấp 2,96 lần. Ngược lại, thị trường Brazil lại có khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này đều giảm hơn 40% so với cùng kỳ năm 2016.
Tuy không phải là thị trường nhập khẩu chủ lực nhưng 10 tháng đầu năm nay Việt Nam tăng nhập khẩu ngô từ Thái Lan, mặc dù giá nhập bình quân là 333 USD/tấn, giảm 77% so với cùng kỳ 2016.
Số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ Việt Nam cho thấy, tháng 10/2017 cả nước đã nhập khẩu 848,7 nghìn tấn ngô, trị giá 158,7 triệu USD, tăng 7,6% về lượng và 7,6% về trị giá – đây là tháng tăng thứ hai liên tiếp – nâng lượng ngô nhập khẩu 10 tháng 2017 lên 6,4 triệu tấn, trị giá 1,2 tỷ USD, giảm 4,47% về lượng và giảm 5,33% về trị giá so với cùng kỳ năm 2016.
Theo tính toán số liệu từ TCHQ Việt Nam, thì trong 10 tháng năm 2017 Việt Nam gia tăng nhập khẩu ngô từ thị trường Thái Lan, tuy Thái Lan chỉ đứng thứ ba về lượng ngô nhập khẩu, nhưng so với cùng kỳ 2016 tốc độ nhập khẩu ngô của Việt Nam từ thị trường tăng gấp hơn 13,4 lần về lượng và gấp 2,9 lần về trị giá, tương ứng với 153 nghìn tấn, trị giá 50,9 triệu USD.
Thị trường có tốc độ tăng mạnh đứng thứ hai sau Thái Lan là Lào, tăng gấp hơn 2,7 lần về lượng và 2,5 lần về trị giá, tuy lượng chỉ đạt 2,1 nghìn tấn, trị giá 418.4 nghìn USD.
Ngoài ra, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ cũng có lượng ngô nhập khẩu tăng khá, tăng gấp hơn 2,2 lần tuy nhiên kim ngạch lại suy giảm 3% so với cùng kỳ.
Việt Nam nhập ngô chủ yếu từ thị trường Achentina chiếm 54% tổng lượng nhóm hàng nhập khẩu, đạt 3,4 triệu tấn, trị giá 667,9 triệu USD, tăng 9,5% về lượng và tăng 9,02% về trị giá so với 10 tháng năm 2016.
Thị trường nhập lớn đứng thứ hai là Brazil nhưng so với cùng kỳ lại giảm cả lượng và trị giá, giảm lần lượt 42,8% và 44,5% tương ứng với 1,7 triệu tấn, trị giá 50,9 triệu USD.
Nhìn chung, 10 tháng 2017 lượng ngô nhập từ các thị trường đều tăng trưởng, chiếm 67% và ngược lại thị trường suy giảm chiếm 33%, trong đó nhập từ Brazil là giảm mạnh nhất.
Thị trường
10 tháng 2017
So sánh cùng kỳnăm 2016 (%)
Tấn
USD
Lượng
Trị giá
Tổng
6.454.193
1.263.674.863
-4,47
-5,33
Achentina
3.495.836
667.922.965
9,50
9,02
Brazil
1.726.305
326.264.685
-42,80
-44,50
Thái Lan
153.018
50.962.082
1.244,62
196,67
Campuchia
8.500
2.158.300
-28,28
-26,75
Lào
2.130
418.400
177,34
154,87
Ấn Độ
1.071
1.308.491
122,20
-3,00
Lúa mì:
Ước tính khối lượng nhập khẩu lúa mì trong tháng 11/2017 đạt 239 nghìn tấn với giá trị đạt 58 triệu USD, đưa tổng khối lượng và giá trị nhập khẩu mặt hàng này 10 tháng đầu năm 2017 đạt 4,28 triệu tấn và 915 triệu USD, giảm 4,2% về khối lượng và giảm 3,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Ba thị trường nhập khẩu lúa mì chính trong 10 tháng đầu năm 2017 là Úc, Canada và Nga với thị phần lần lượt là 46%, 22,1% và 6,7%. Mười tháng đầu năm 2017 ba thị trường nhập khẩu lúa mì này đều có sự gia tăng mạnh cả về khối lượng và giá trị. Trong đó, thị trường Canada có khối lượng lúa mì tăng hơn 16 lần và giá trị tăng hơn 13 lần, thị trường Nga có khối lượng nhập khẩu lúa mì tăng 4,9 lần và giá trị tăng 5,2 lần và thị trường Úc có khối lượng nhập khẩu lúa mì tăng 24,9% và giá trị tăng 21,7%. Thị trường có giá trị nhập khẩu giảm mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là thị trường Hoa Kỳ (giảm 93,3%).
THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
Sắn và các sản phẩm từ sắn:
Khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn trong tháng 11 năm 2017 ước đạt 374 nghìn tấn với giá trị đạt 107 triệu USD, đưa khối lượng xuất khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn 11 tháng đầu năm 2017 ước đạt 3,53 triệu tấn và 912 triệu USD, tăng 5,5% về khối lượng và tăng 0,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 10 tháng đầu năm 2016, Trung Quốc là thị trường nhập khẩu chính, chiếm tới 87,7% thị phần, tăng 6,1% về khối lượng và tăng 0,2% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Trong 10 tháng đầu năm 2017, Các thị trường có giá trị nhập khẩu sắn và các sản phẩm từ sắn giảm mạnh là: Hàn Quốc (-21,7%) và Đài Loan (-11,2%).