Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Tư, 29 tháng 11, 2017

Sẽ thanh tra DN thủy sản XK vào Liên minh Kinh tế Á-Âu


Kết quả hình ảnh cho doanh nghiệp thủy sản
Doanh nghiệp chế biến thủy sản

Dự kiến, trong tháng 12 tới, Cơ quan Kiểm dịch động thực vật Liên bang Nga (FSVPS) sẽ cử Đoàn cán bộ sang Việt Nam để thanh tra các DN chế biến thủy sản Việt Nam có nhu cầu XK sản phẩm vào Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Theo Cục Quản lý chất lượng Nông Lâm sản và Thủy sản (Nafiqad), Bộ NN&PTTN: Mới đây, Nafiqad đã nhận công thư số FS-KS-7/24918 của FSVPS về việc dự kiến cử Đoàn cán bộ sang Việt Nam trong tháng 12 để thanh tra các DN chế biến thủy sản Việt Nam có nhu cầu XK sản phẩm vào Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Để chuẩn bị cho việc thanh tra, FSVPS yêu cầu phía Việt Nam cung cấp thông tin DN đăng ký XK vào Liên minh Kinh tế Á-Âu.

Thực hiện yêu cầu của FSVPS, Nafiqad yêu cầu các cơ sở đănh ký XK vào Liên minh Kinh tế Á-Âu hoàn thiện thông tới DN, gửi bản tiếng Anh về Nafiqad qua thư điện tử vuhue.nafi@mard.gov.vn trước ngày 22/11 để kịp tổng hợp và trả lời FSVPS.

Được biết, hiện nay toàn quốc có 101 cơ sở đăng ký XK thủy sản vào Liên minh Kinh tế Á-Âu với các mặt hàng chủ yếu là tôm đông lạnh, cá tra đông lạnh, các basa đông lạnh, cá rô phi đông lạnh, hải sản nói chung…

Trước đó, trao đổi với phóng viên Báo Hải quan, một số DN có nhu cầu XK thủy sản sang thị trường trong Liên minh Kinh tế Á-Âu cho rằng, cơ hội mở ra rất khả quan, đặc biệt sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam-Liên minh Kinh tế Á-Âu có hiệu lực, thuế XK thủy sản đã được giảm ngay về 0% từ mức 5,63%.

Tuy nhiên, khó khăn của không ít DN lại bắt nguồn từ những vấn đề rất cụ thể. Điển hình như, các DN muốn XK sản phẩm cá khô sang thị trường Liên minh Kinh tế Á-Âu (trong đó có Nga) đều rất khó vì Nga không đồng ý với chứng nhận của cơ quan thẩm quyền của Việt Nam cấp mà các DN phải đáp ứng được quy định riêng của thị trường. Đây là điều mà các DN vừa và nhỏ gần như không làm được. Tương tự, khi XK cá tra, Nga cũng giới hạn danh sách các DN được phép XK và việc mở rộng danh sách này không phải điều đơn giản…

Thứ Sáu, 24 tháng 11, 2017

Sẽ cấm kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi


Tình trạng lạm dụng thuốc kháng sinh đã trở thành một vấn đề mang tính toàn cầu mà Việt Nam là một trong những nước chịu ảnh hưởng nặng nề. Không chỉ vậy, thực phẩm chứa hàm lượng kháng sinh quá cao tiềm ẩn nhiều nguy cơ xấu tới sức khỏe của người tiêu dùng. Do đó, từ năm 2018, việc sử dụng thuốc kháng sinh trong thức ăn chăn nuối chỉ được cho phép với mục đích phòng, chữa bệnh.


Sáng 13-11, tại tỉnh Vĩnh Phúc đã diễn ra mít tinh cam kết sử dụng kháng sinh có trách nhiệm. Đây là sự kiện hưởng ứng Tuần lễ nhận thức về việc sử dụng kháng sinh do Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lương Nông Liên Hiệp Quốc (FAO) phát động.

Lượng kháng sinh bán ra tăng gấp đôi


Ông Kidong Park, Trưởng đại diện WHO tại Việt Nam, cho biết kháng sinh giúp cứu sống hàng triệu người mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn. Tuy nhiên, bên cạnh các yếu tố tự nhiên, việc sử dụng kháng sinh không đúng, nhất là lạm dụng trong y tế, nông nghiệp là nguyên nhân làm gia tăng tình trạng kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn gây bệnh. Kháng thuốc kháng sinh xảy ra ở tất cả quốc gia, con người, thực phẩm, động vật.

Báo cáo toàn cầu về kháng thuốc năm 2014 của WHO cho biết tại Việt Nam, hầu hết cơ sở khám chữa bệnh đang đối mặt với sự lan rộng của vi khuẩn kháng với nhiều loại kháng sinh; mức độ và tốc độ kháng thuốc gia tăng ở mức báo động.

Theo Bộ Y tế, từ năm 2009 đến nay, số lượng thuốc kháng sinh ở Việt Nam bán ra ngoài cộng đồng đã tăng 2 lần. Nguyên nhân chính là do lạm dụng kháng sinh, có tới 88% kháng sinh tại thành thị được bán ra mà không cần kê đơn, ở nông thôn tỉ lệ này lên đến 91%. Việt Nam hiện là một trong những nước có tỉ lệ kháng thuốc kháng sinh cao nhất thế giới, thậm chí tình trạng mua bán thuốc kháng sinh được giới chuyên môn đánh giá "dễ hơn mua rau". Vì thế, theo Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Viết Tiến, năm 2017, ba thông điệp được đưa ra tại lễ phát động là: Chỉ sử dụng kháng sinh khi có bác sĩ kê đơn; không sử dụng lại kháng sinh và không chia sẻ kháng sinh cho người khác; hãy giữ cho mình một cơ thể khỏe mạnh, tránh những môi trường nhiễm khuẩn.
Kết quả hình ảnh cho tồn dư kháng sinh trong thịt lợn
Tồn dư kháng sinh trong thực phẩm gây nguy hại tới sức khỏe người tiêu dùng. 


Cấm từ năm 2018


Khẳng định nạn kháng sinh đang ảnh hưởng tới sức khỏe và sinh kế của người dân Việt Nam, đe dọa tới sự bền vững của sản xuất nông nghiệp, thực phẩm và môi trường, ông Jong Ha Bea, Trưởng đại diện FAO tại Việt Nam, kêu gọi người chăn nuôi, bác sĩ thú y và người bán thuốc sử dụng kháng sinh có trách nhiệm hơn. Việc sử dụng rộng rãi kháng sinh trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam làm gia tăng sự hiện diện của các vi khuẩn kháng thuốc trong gia súc, gia cầm, thủy sản và sản phẩm động vật. Đáng lo ngại, kháng sinh được trộn vào thức ăn chăn nuôi một cách bừa bãi gây nguy hại cho sức khỏe người dân do ăn thịt, cá là "ăn" cả kháng sinh tồn dư trong thực phẩm.

Trước đó, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã khởi động kế hoạch hành động quốc gia về quản lý, sử dụng kháng sinh và phòng chống kháng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản 2017 -2020. Theo lộ trình, Việt Nam sẽ chỉ cho phép sử dụng kháng sinh trong thức ăn chăn nuôi hết năm 2017 và từ năm 2018 sẽ cấm sử dụng thức ăn chăn nuôi có pha trộn kháng sinh cho mục đích sinh trưởng mà chỉ cho phép sử dụng trong phòng và chữa bệnh. Danh mục kháng sinh được phép sử dụng trong thức ăn chăn nuôi từ 43 loại trước đây, nay cắt giảm còn 15 loại và cũng chỉ được phép sử dụng đến ngày 31-12-2017.


Tăng cường giám sát


PGS-TS Lương Ngọc Khuê, Cục trưởng Cục Quản lý khám chữa bệnh (Bộ Y tế), cho biết một trong những biện pháp để kiểm soát tình trạng kháng thuốc kháng sinh là Bộ Y tế sẽ thí điểm giám sát bằng hệ thống camera tại nhà thuốc và đưa tiêu chí bán kháng sinh theo đơn vào tiêu chuẩn nhà thuốc đạt Thực hành tốt (GPP). Đến năm 2020, Bộ Y tế yêu cầu các quầy thuốc, nhà thuốc bán kháng sinh phải 100% có đơn thuốc.

Kẽ hở kiểm định


Hầu hết người nuôi tôm buộc phải dùng đến thuốc bảo vệ thực vật để diệt một số sinh vật nhằm làm sạch ao hồ trước khi thả nuôi. Do đó, con tôm khi thu hoạch chắc chắn đã mang chất kháng sinh (trừ tôm nuôi tự nhiên).

Ông Võ Thành Tiếm, Chi cục trưởng Chi cục Quản lý chất lượng nông - lâm sản và thủy sản Cà Mau, cho biết dù địa phương liên tục tuyên truyền, cảnh báo hạn chế sử dụng chất kháng sinh trong quá trình nuôi và chế biến tôm xuất khẩu song tình trạng dư lượng kháng sinh trong tôm vẫn tràn lan, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam trên thị trường quốc tế. "Nghề nuôi tôm rủi ro cao và nhiều dịch bệnh nên người nuôi không thể không sử dụng nhiều chất kháng sinh để phòng ngừa, dẫn đến tôm bị nhiễm chất cấm. Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại chính là khâu chế biến cũng gây nhiễm kháng sinh. Bởi trong quá trình chế biến, nhiều cơ sở đã lạm dụng các chất bảo quản để sản phẩm được tươi, lâu phân hủy. Đặc biệt là tôm bơm chích tạp chất, có đến 80% - 90% tôm bị phát hiện có tạp chất đều được chế biến xuất khẩu chứ không tiêu hủy theo quy định" - ông Tiếm cho biết.

Cũng theo ông Tiếm, trên thực tế, không ít doanh nghiệp (DN) chế biến thủy sản gian dối trong việc kiểm định dư lượng kháng sinh trong tôm. Quy trình kiểm định dư lượng kháng sinh trong tôm hiện nay là DN tự chọn mẫu gửi cho cơ quan kiểm định. Do đó, những DN gian dối sẽ chọn mẫu tốt nhất để kiểm định, trong khi cả lô hàng thì kém chất lượng. Cách kiểm định này gây ra cạnh tranh không công bằng với những DN làm ăn nghiêm túc.

Nguyên nhân dẫn đến chuyện kiểm định theo kiểu chiếu lệ có thể là do chủ DN đồng tình, cũng có thể là do một bộ phận trong xí nghiệp cố tình qua mặt chủ DN. Trong việc này, có sự trợ giúp lớn từ chính cơ quan kiểm định do cách làm việc qua loa, thiếu trách nhiệm. "Một khi hàng của DN xuất khẩu bị trả về phải tổn thất lớn về kinh tế là đương nhiên. Nhưng quan trọng hơn là tổn thất uy tín, danh dự của ngành tôm cả nước. Về mặt quản lý nhà nước, năm nào chúng tôi cũng thực hiện tháng cao điểm tăng cường giám sát, quản lý, kiểm soát từ đầu vào cho đến khâu tiêu thụ. Tuy nhiên, thời gian qua, công tác phối hợp giữa các ngành nông nghiệp, y tế và công thương ở địa phương chưa đồng bộ, có khi giẫm chân lên nhau, gây phiền hà cho DN trong khi hiệu quả mang lại không cao" - ông Tiếm nhìn nhận.

Thứ Năm, 23 tháng 11, 2017

Thực phẩm biến đổi gen, “hạt giống diệu kỳ” hay “chất độc màu xanh”


Vấn đề an toàn thực phẩm, trực tiếp (ăn thực phẩm BĐG) hay gián tiếp (ăn động vật được nuôi bằng thực phẩm BĐG) vẫn là vấn đề đang được nghiên cứu và tranh cãi trên thế giới.


Cụm từ “biến đổi gen” (BĐG) cũng không còn quá xa lạ với người tiêu dùng Việt Nam, thế nhưng nếu hỏi rằng bạn có biết thông tin gì về loại thực phẩm này, thực phẩm hằng ngày bạn ăn có liên quan đến cây trồng BĐG hay không, thì hầu hết mọi người đều rất mơ hồ. Người mua thực phẩm không để ý, không biết, và ngay cả người bán cũng chẳng có kiến thức gì hơn.

Hàng năm, Việt Nam nhập hàng triệu tấn ngô, đậu nành từ Brazil, Mỹ, Argentina, Ấn Độ, là những nước có diện tích trồng ngô và đậu nành BĐG lớn nhất thế giới. Đó còn chưa kể hàng trăm ngàn tấn thịt gia cầm, gia súc được nhập từ các quốc gia cho phép sử dụng thực phẩm BĐG làm thức ăn chăn nuôi. Có nghĩa là, từ lâu thực phẩm BĐG đã hiện diện trong bữa ăn của người Việt, và hầu hết các gia đình Việt không hề nhận thức được mình đang ăn thực phẩm BĐG.

Viễn cảnh về một thế giới với “những ruộng đồng bát ngát trù phú, cung cấp đủ lương thực cho toàn bộ dân số thế giới với con số khổng lồ gần lên tới 9 tỷ người nhờ những giống cây trồng có khả năng kháng sâu bệnh, năng suất cao, nơi mà người nông dân thảnh thơi không phải lo lắng nhiều về việc phun thuốc trừ sâu, giảm lượng nước tưới bón và công chăm sóc” là một cái bẫy mà các tập đoàn công nghệ sinh học xuyên quốc gia xây dựng lên nhân danh sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nó được tô màu lấp lánh tính nhân văn để che đi những góc khuất chứa đầy rủi ro.

Mới đây, Việt nam đã chính thức chấp nhận đưa giống cây trồng BĐG trồng trên diện rộng.. Và người dân Việt sẽ càng thêm phần băn khoăn khi biết rằng, tập đoàn Monsanto của Mỹ, một trong 2 công ty được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp chứng nhận được bán đại trà giống ngô biến đổi gen tại Việt Nam, chính là nhà cung cấp thuốc trừ cỏ và chất độc màu da cam mà quân đội Mỹ từng sử dụng trong chiến tranh Việt Nam. Hiện tại thời điểm này, tập đoàn Monsanto vẫn đang đối mặt với làn sóng phản đối dữ dội từ khắp các nước trên thế giới về chương trình gieo trồng thực phẩm biến đổi gen. Hồi tháng 5, hàng ngàn người tràn ra các ngã đường ở 400 thành phố, từ 40 quốc gia để phản đối tập đoàn này.

Vấn đề an toàn thực phẩm, trực tiếp (ăn thực phẩm BĐG) hay gián tiếp (ăn động vật được nuôi bằng thực phẩm BĐG) vẫn là vấn đề đang được nghiên cứu và tranh cãi trên thế giới. Trong khi Mỹ chấp nhận sản phẩm BĐG thì Châu Âu là Nhật kiên quyết nói không với loại thực phẩm này. Ở Việt nam, trên nhãn bao bì không hề có ghi chú hay chỉ dẫn gì để thông báo cho người tiêu dùng về nguồn thực phẩm, và nếu người dân cứ bị trước đi quyền được lựa chọn dùng hay không dùng sản phẩm BĐG như vậy, thì chúng ta đang thực sự là mẫu thí nghiệm sống cho các nhà khoa học trong nghiên cứu của họ về tính an toàn, một cách bị động đến tàn nhẫn.

Bên cạnh mối lo về tính an toàn, việc không chủ động về giống sẽ gây ra sự phụ thuộc vào các công ty cung cấp giống của các tập đoàn nước ngoài. Các tập đoàn xuyên quốc gia như Monsanto từ từ đưa “hạt giống” quyền lực của mình lan rộng dần trên các đồng ruộng khắp nơi trên thế giới. Hạt giống biến đổi gen là vũ khí mà họ sử dụng để chiếm đoạt quyền kiểm soát các nguồn cung cấp lương thực toàn cầu.

Hiện giờ, Monsanto đang sở hữu 95% hạt giống bông tại Ấn Độ, điều này thể hiện rõ ràng sự độc quyền gần như toàn bộ về nguồn giống-tài nguyên mà đáng lẽ thuộc quyền sở hữu tất cả những người nông dân lao động trên mảnh đất của mình. Người nông dân Ấn Độ đã bị trói buộc hoàn toàn trong các thỏa thuận hợp đồng, lệ thuộc vào hệ thống nông nghiệp tập trung hóa và họ đã trở thành nô lệ trên chính quê hương của mình, không lối thoát.
Kết quả hình ảnh cho thực phẩm biến đổi gen
Thực phẩm biến đổi gen.

Các cây trồng BĐG, và xa hơn nữa là các động vật BĐG, một trong những thành tựu khoa học tiến bộ vượt bậc của loài người, tưởng như xa xôi nhưng thực tế lại đang rất gần tất cả chúng ta, là bài toán hóc búa về sự lựa chọn cho cả các nhà chức trách và cả những người nông dân chân lấm tay bùn.

Sự chào đón Monsanto vào Việt nam là sự chào đón khoa học công nghệ tiến bộ trên thế giới, với ước vọng đẩy lùi nỗi lo đói nghèo đè nặng dân tộc Việt bao năm nay hay là một sự thử nghiệm liều lĩnh ẩn chứa nỗi lo về một sự hủy hoại mới của “chất độc màu xanh” mang đến từ Monsanto-cái tên liên quan đến thảm kịch “chất độc màu da cam” trong những năm chiến tranh đã qua? Câu hỏi này, chúng ta chưa sớm trả lời được.

Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

Tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi, giúp nâng cáo giá trị


Việc áp dụng thành công một số các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào lĩnh vực chăn nuôi của Việt Nam chính là một nhân tố đáng khích lệ nhằm duy trì và cải thiện tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi trong tương lai.

Những năm qua, Bộ NN-PTNT đã chỉ đạo nghiên cứu và ứng dụng nhiều TBKT vào chăn nuôi.

Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, giai đoạn 2009 - 2016 đã có 72 TBKT được công nhận. Trong đó, giống vật nuôi có 38 TBKT cho các đối tượng lợn, gà, vịt, ngan, ngan lai vịt, ong tằm. Thức ăn chăn nuôi có 5 TBKT về quy trình SX và chế phẩm sinh học. Môi trường chăn nuôi có 7 TBKT về quy trình xử lý biogas và các mẫu công trình khí sinh học. Quy trình chăn nuôi và các công nghệ khác có 22 TBKT về nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng bệnh. Các TBKT đã được ứng dụng, chuyển giao vào thực tiễn SX tại các vùng sinh thái khác nhau trên cả nước.

Bằng nguồn kinh phí Trung ương và địa phương, mỗi năm Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai 450 - 500 mô hình trình diễn để chuyển giao các TBKT trong chăn nuôi và có gần 9,2 nghìn hộ dân được hưởng lợi.

Ngoài ra, các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp cũng tổ chức hàng trăm điểm trình diễn, giới thiệu các TBKT cho nông dân. Điển hình là các mô hình như cải tạo đàn bò địa phương bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo; xây dựng mô hình SX giống gia cầm cho các tỉnh biên giới miền núi phía Bắc; phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cấp quy mô xã… Nhiều mô hình cho hiệu quả kinh tế cao, có tính thực tiễn có thể nhân rộng.

Từ năm 2009 - 2012, các doanh nghiệp lớn đã nhập trên 60 nghìn con bò sữa HF từ Australia và New Zealand, phần lớn được nuôi quy mô tại Nghệ An. Với việc ứng dụng đồng bộ giống có năng suất cao, ứng dụng chuồng trại có khả năng bức xạ nhiệt mặt trời, giảm nhiệt độ chuồng nuôi, nuôi bò bằng sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh TMR, đến nay đã có 52 nghìn con giống bò sữa HF năng suất cao (31% tổng đàn). Trong đó, riêng Tập đoàn TH sở hữu trang trại bò sữa 45 nghìn con với năng suất sữa bình quân 40 lít/con/ ngày. Đây được đánh giá là một trong những trang trại bò sữa có quy mô lớn nhất châu Á hiện nay.
Kết quả hình ảnh cho bò úc nhập về việt nam
Bò sữa giống được nhập về Việt Nam.
Ngoài ra có thể kể đến các TBKT khác như tinh trùng cọng rạ đông lạnh, phân biệt giới tính trong chăn nuôi bò; nhiều giống lợn cao sản được nhập về nuôi tại Việt Nam, xây dựng được hệ thống chăn nuôi lợn 4 cấp cụ kỵ - ông bà - bố mẹ - thương phẩm. Đến nay, tại Việt Nam có 5 chuỗi SX lợn 4 cấp, SX ra khoảng 4 triệu lợn thịt/năm, chiếm 12% thị trường thịt lợn của cả nước. Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp tham gia chuỗi chăn nuôi lợn 3 cấp.
Theo thống kê, trung bình, mỗi năm Việt Nam chuyển giao vào SX 1.700 con lợn giống ông bà, bố mẹ. Nhiều giống gà, hợp gà lai được ứng dụng giúp tăng năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi và người tiêu dùng. Về thủy cầm, nhiều TBKT được áp dụng đã giúp người chăn nuôi cung ứng ra thị trường gần 14 triệu con gà các loại, trên 1,5 triệu con vịt, gần 130 nghìn con ngan giống, trên 12 triệu quả trứng...
Tại hội thảo "Giới thiệu các TBKT mới của khối Nhà nước và doanh nghiệp - lĩnh vực chăn nuôi" do Cục Chăn nuôi và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia vừa tổ chức tại Nghệ An, TS Hạ Thúy Hạnh, PGĐ Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, chăn nuôi đang đứng trước nhiều thách thức trong khâu thị trường. Cùng với đó là những khó khăn về biến đổi khí hậu, công tác giống… Vì vậy, cần áp dụng nhiều TBKT, xây dựng chuỗi liên kết nhằm từng bước nâng cao giá trị sản phẩm...
Một trong những phương thức hữu hiệu nhất nhằm đẩy mạnh giá trị sản phẩm TACN chính là việc làm chứng nhận hợp quy cho sản phẩm này, không những tạo niềm tin cho người tiêu dùng, cho đối tác mà còn là một công cụ hữu hiệu để " nâng tầm thương hiệu" cho doanh nghiệp. 

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Thức ăn chăn nuôi: Việt Nam thua trắng khâu nguyên liệu

TTO - Doanh nghiệp VN đang cấp tập nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vì nguyên liệu trong nước không thể cạnh tranh về giá so với các cường quốc nông nghiệp khác như Mỹ, Argentina, Ấn Độ…


Chỉ trong ba tháng đầu năm 2017, VN đã chi khoảng 22.000 tỉ đồng nhập thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, tăng tới 41,6% so với cùng kỳ năm 2016. Việc tăng cường nhập khẩu giai đoạn này chủ yếu là để sản xuất và dự trữ nhằm tranh thủ mức giá nguyên liệu rẻ.

Đừng mơ thay thế hàng nhập?

Khoảng 4-5 năm trở lại đây, Công ty cổ phần Thanh Bình chỉ sản xuất và kinh doanh các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Trước đó, nguồn nguyên liệu trong nước như bắp, cám gạo, khoai mì luôn chiếm một phần lớn trong cơ cấu nguyên liệu của công ty.

Theo ông Phạm Đức Bình - giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình (Đồng Nai), giá bắp nhập từ Mỹ, Argentina về đến cảng của VN hiện đang được chào bán với giá 4.700 đồng/kg, luôn thấp hơn giá bắp trồng trong nước. Giá bã đậu nành về cũng chưa tới 10.000 đồng/kg thì trong nước không thể cạnh tranh nổi.

Chưa kể, hàng nhập khẩu số lượng muốn mua bao nhiêu cũng có, biết chắc giá cả và phẩm cấp sản phẩm nên doanh nghiệp dễ tính toán cho sản xuất kinh doanh. Trong khi hàng trong nước không ổn định về sản lượng, chất lượng mỗi lúc một khác nhau rất khó cho nhà sản xuất.

Theo một số chuyên gia, dù VN đã có nhiều chính sách khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang bắp nhưng thực tế không hiệu quả. Do đặc điểm đất đai cũng như hạ tầng mà việc trồng bắp ở VN khó cơ giới hóa, năng suất thấp, giá thành cao khó cạnh tranh với hàng nhập khẩu.

Chưa kể nhiều diện tích trồng bắp lấy hạt ở các địa phương trồng nhiều như Đồng Nai cũng đã chuyển sang trồng bắp lấy thân làm thức ăn nuôi bò, hoặc chuyển sang trồng các loại cây ăn trái cho thu nhập cao hơn.

Ông Phạm Đức Bình nhận định VN không thể tránh nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.

“Đừng mơ đến chuyện tự túc. Đây là vấn đề của phân công lao động. VN có lợi thế về sản xuất lúa quy mô lớn thì nên tập trung vào lúa chất lượng cao chứ không hi vọng sẽ chuyển bớt đất lúa sang trồng bắp để giảm nhập khẩu vì không hiệu quả” - ông Bình nói.

Tăng nhanh vì doanh nghiệp trữ hàng

Ông Lê Bá Lịch, chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi VN, cũng cho rằng việc thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu nhập khẩu về VN trong các tháng đầu năm nay tăng mạnh không có nhiều bất ngờ.

Lý do thời gian qua giá các loại nguyên liệu như bắp, đậu nành đều giảm do được mùa và Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng trên vào nước này. Do giá thấp, các doanh nghiệp tranh thủ nhập hàng giá rẻ để trữ trong kho.

“Đằng nào người dân vẫn phải chăn nuôi nên các doanh nghiệp mạnh dạn trữ hàng. Với sản lượng trong nước ngày càng thiếu hụt so với nhu cầu, việc tăng nhập khẩu là đương nhiên” - ông Lê Bá Lịch cho biết.

Trong khi đó, ông Phạm Đức Bình cho hay bên cạnh mua do bắp và đậu nành ở mức giá thấp còn do các doanh nghiệp VN đang đẩy mạnh nhập khẩu bột thịt về trữ trong kho.

“Đang có thông tin châu Âu sẽ cho sử dụng lại bột thịt trong chăn nuôi nên các doanh nghiệp tranh thủ mua sớm trước khi giá tăng lên trong thời gian tới” - ông Bình cho hay.

Nhưng do nhập về nhiều nên lượng hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong các cảng, kho bãi của các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh thức ăn chăn nuôi đang có dấu hiệu dư thừa.

Tập trung vào sản phẩm có lợi thế

Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ, trong ba tháng đầu năm nay người chăn nuôi heo, gà đều trong tình trạng lỗ nhiều hơn lãi. Tuy nhiên, do đã đầu tư hệ thống chuồng trại nên các chủ trại cũng không dễ dàng giảm ngay tổng đàn, nhất là với heo. Vì vậy, lượng thức ăn tiêu thụ trong nước vẫn giữ ở mức cao.

Trước băn khoăn cho rằng VN là nước nông nghiệp mà phải nhập lượng lớn nguyên liệu như bắp, đậu nành, ông Lê Bá Lịch cho rằng nếu cứ nghĩ như trên là không hiểu kỹ về nông nghiệp VN. Thực tế đất để canh tác nông nghiệp VN là không nhiều.

Hơn nữa, VN là nước nông nghiệp nhưng ở trình độ sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu. Trong khi đó các quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp nên họ cho ra sản lượng lớn, giá thành thấp, VN khó cạnh tranh.

“Vì vậy, thay vì nghĩ sản xuất nhiều bắp với đậu nành để phục vụ ngành chăn nuôi, ngành nông nghiệp VN nên tập trung sản xuất những sản phẩm có lợi thế đáp ứng nhu cầu trong nước, xuất khẩu rồi nhập khẩu thức ăn chăn nuôi” - ông Lịch nói.


Nhập thức ăn và xuất khẩu thịt

Theo ông Lê Bá Lịch, giá thức ăn chăn nuôi hiện tương đồng trên quy mô toàn cầu, vì vậy giá thành nuôi trong nước hoàn toàn có thể cạnh tranh được với các quốc gia khác. VN hoàn toàn có thể xuất khẩu được thịt heo, thịt gà sang các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hong Kong, Nhật Bản, Singapore, Brunei...

Vấn đề hiện nay là cơ quan thú y phải nhanh chóng vào cuộc để mở cửa thị trường, đảm bảo ngành chăn nuôi trong nước an toàn dịch bệnh, đảm bảo yêu cầu xuất khẩu.

Mỗi năm nhập trên 3 tỉ USD thức ăn chăn nuôi...

Theo Bộ NN&PTNT, năm 2016 VN nhập khẩu 3,39 tỉ USD thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu. Năm 2016, VN đã nhập khẩu 8,3 triệu tấn bắp (1,65 tỉ USD), 1,56 triệu tấn đậu nành (ép dầu, bã dùng cho chăn nuôi).

Ba tháng đầu năm 2017, giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu đã lên mức 955 triệu USD (khoảng 22.000 tỉ đồng).

Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng kể trên là Argentina, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Trung Quốc. Thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là Ý (tăng hơn 5 lần), tiếp đến là thị trường Hoa Kỳ (tăng gần 3 lần).

Tập đoàn Philippines chi triệu đô thâu tóm công ty thức ăn chăn nuôi Việt.


Việc thâu tóm Eurofood nhằm giúp Aboitiz Equity Ventures Inc. mở rộng hoạt độngt trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.

Thông qua một công ty con, Tập đoàn Aboitiz Equity Ventures Inc. (AEV) của Philippines vừa mua 70% cổ phần của Công ty TNHH Dinh dưỡng Âu Châu (Eurofeed) nhằm mở rộng hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.
Trong một thông cáo gửi Sở Giao dịch Chứng khoán Philippines, AEV cho biết công ty con của mình là Pilmico International Pte đã mua 2,8 triệu cổ phiếu, tương đương 70% vốn điều lệ của Eurofood.
Hai bên chưa chốt giá trị tương vụ, nhưng AEV dự kiến chi khoảng 3,7 triệu USD để mua lượng cổ phần nói trên. Eurofeed được định giá 5,3 triệu USD, không bao gồm các khoản nợ của công ty. Mức giá cuối cùng còn phụ thuộc vào báo cáo kiểm toán của Eurofeed.
Pilmico International Pte năm ngoái mua lại toàn bộ cổ phần của Công ty TNHH Thương mại Pilmico Việt Nam, hoạt động trong các ngành nghề như thực phẩm, đồ uống, nguyên vật liệu nông nghiệp và lâm nghiệp.
IFC, một công ty thành viên của Ngân hàng Thế giới, tháng 6/2016 đã đầu tư 340 tỉ đồng (tương đương 15 triệu USD) dưới hình thức trái phiếu chuyển đổi kỳ hạn 5 năm vào CTCP Thức ăn Chăn nuôi Anova (Anova Feed) để mở rộng hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi.


Thông tư số 61/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn : Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thức ăn chăn nuôi


BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
______________
Số: 61/2011/TT-BNNPTNT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
___________________________
Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2011

THÔNG TƯ

Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thức ăn chăn nuôi

––––––––––––––––––––

Căn cứ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Giống vật nuôi ngày 24 tháng 3 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ về việc quản lý thức ăn chăn nuôi;
Căn cứ Nghị định số 01/2008/CP ngày 03 tháng 01 năm 2008  của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Nghị định 75/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về việc sửa đổi điều 3 Nghị định số 01/2008/CP ngày 03 tháng 01 năm 2008;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định như sau:
Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này 02 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thức ăn chăn nuôi:
1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ký hiệu:   QCVN 01 - 77: 2011/BNNPTNT
2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Thức ăn chăn nuôi - Các chỉ tiêu vệ sinh an toàn và mức giới hạn tối đa cho phép trong thức ăn chăn nuôi.
Ký hiệu:   QCVN 01 - 78: 2011/BNNPTNT 
Điều 2. Thông tư này có hiệu lực sau 6 tháng, kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan, tổ chức và cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.

Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để b/c);
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- UBND các Tỉnh, TP trực thuộc TƯ;
- Chi cục Thú y các Tỉnh, TP trực thuộc TƯ;
- Các Cục, Vụ, Viện, Trường Đại học thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT;
- Công báo, Website Chính phủ; Website Bộ NN&PTNT;
- Cục Kiểm tra văn bản, Bộ Tư pháp;
- Lưu: VT, KHCN.

Công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm bổ sung đa enzyme bằng công nghệ vi sinh

Năm 2015, các nhà nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông thôn do TS. Trần Quốc Việt phụ trách đã thành công nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm bổ sung đa enzyme bằng công nghệ vi sinh.


Ngành chăn nuôi ở Việt nam hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó giá thức ăn liên tục tăng cao là một trong những trở ngại lớn nhất. Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế, giá thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam cao gấp 2 lần so với chuẩn giá quốc tế và liên tục tăng kể từ năm 2007 đến nay. Nguyên nhân làm cho giá các loại nguyên liệu thức ăn không nhừng leo thang là tình trạng căng thẳng về nguồn cung. Tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng khi ngũ cốc và những nguồn nguyên liệu giầu tinh bột khác đang được sử dụng ngày càng nhiều để sản xuất nhiên liệu sinh học. Việc tăng giá thức ăn tạo nên áp lực lớn đối với ngành chăn nuôi, đặc biệt đối với ngành chăn nuôi lợn và gia cầm, vốn luôn bị cạnh tranh gay gắt không chỉ với con người về nguồn ngũ cốc mà còn với ngành sản xuất cồn sinh học. Biện pháp tối ưu để giải quyết vấn đề này là sử dụng các enzyme bổ sung vào thức ăn để làm tăng tỷ lệ tiêu hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi. Và đề tài này được thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc, giá cầm có bổ sung enzyme bằng công nghệ vi sinh quy mô công nghiệp đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao. 

Đề tài đã thu được những kết quả sau: 
- Đã tuyển chọn được 4 chủng vi khuẩn Bacillus có khả năng sản sinh enzyme cao hơn các chủng của đề tài xuất xứ, gồm 3 chủng vi khuẩn Bacillus subtilis (S23; V158; V159) và 01 chủng vi khuẩn Bacillus.amyloliquefaciens. Bốn chủng này đã được đưa vào danh mục các vi khuẩn hữu ích và được lưu trữ tại bảo tàng giống vi sinh vật của Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội với các mã VTCC tương ứng (B2: VTCC B 1877; V158: VTCC B-1879; V159: VTCC B-1880 vaf S23: VTCC B-1878).
- Hoàn thiện được công nghệ và xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất các enzyme α-amylase, protease, cellulose, β-glucanase và xylanase từ các chủng vi khuẩn trên.
- Đã sản xuất được 5000 lít chế phẩm đa enzyme dạng lỏng đạt các chỉ tiêu chất lượng đặt ra về hoạt tính các enzyme (U/ml): α-amylase: 2238; protease: 226; cellulose: 640; β-glucanase: 298 và xylanase: 1158. 
- Xác định được liều bổ sung thích hợp đối với chế phẩm đa enzyme lỏng khi bổ sung vào thức ăn cho lợn và gà là từ 3500 ml đến 5000 ml/tấn. 
- Bổ sung chế phẩm đa enzyme lỏng vào thức ăn đã làm tăng tốc độ sinh trưởng của gà từ 9,9% đến 10,6 và giảm tiêu tốn thức ăn từ 6,3% đến 10,4% so với đối chứng. 
- Khi bổ sung chế phẩm đa enzyme lỏng vào thức ăn đã làm tăng tốc độ sinh trưởng của lợn từ 7,9% đến 10,2% và giảm tiêu tốn thức ăn từ 9,4% đến 10,0% so với đối chứng. 
- Đã thiết kế và lắp đặt thành công dây chuyền sản xuất thức ăn bổ sung giàu enzyme cho lợn và gà công suất trên 1 tấn/ngày. 
- Xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất thức ăn bổ sung giầu enzyme cho lợn và gà quy mô 1 tấn/ngày. 
- Sản xuất được 40 tấn thức ăn bổ sung giàu enzyme cho lợn, khi sử dụng để nuôi lợn đã làm tăng tốc độ sinh trưởng từ 7,9% đến 9,5% và giảm tiêu tốn thức ăn từ 6,7% đến 9,87% so với đối chứng. 
- Sản xuất được 30 tấn thức ăn bổ sung giầu enzyme cho gà, khi sử dụng để nuôi gà thịt đã làm tăng tốc độ sinh trưởng từ 9,2% đến 9,4% và giảm tiêu tốn thức ăn từ 6,67% đến 7,25% so với đối chứng. 
- Xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở và đăng ký danh mục cho bốn sản phẩm của Dự án, bao gồm: (1) chế phẩm đa enzyme lỏng (RTD- LIQUOR™); (2) chế phẩm đa enzyme bột (RTD-ENZYME POWDER™); (3) thức ăn bổ sung giầu enzyme cho lợn (RTD-Feed Enzyme™Swine); (4) thức ăn bổ sung giầu enzyme cho gà (RTD-Feed Enzyme™Avian).

Trong bối cảnh thị trường enzyme thức ăn đang diễn biến phức tạp và phụ thuộc chủ yếu vào các nhà sản xuất nước ngoài với giá rất cạnh tranh thì kết quả của Dự án này đã mang lại một ý nghĩa rất quan trọng và thực tiễn. Nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành thêm những nghiên cứu sâu hơn để dự án này hoàn thiện được toàn diện công nghệ sản xuất chế phẩm đa enzyme dùng trong chăn nuôi và phát triển thị trường.