Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Ba, 30 tháng 1, 2018

Đề xuất cấm nhập khẩu thuốc an thần thú y trong 2 năm

Trước vấn nạn thương lái và một số chủ cơ sở giết mổ tiêm thuốc an thần vào lợn trong quá trình vận chuyển và giết thịt để bán ra thị trường, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT) đã kiến nghị tạm cấm nhập khẩu thuốc an thần thú y trong 2 năm.


Theo báo Lao động, ngay sau khi phát hiện ra các vụ hàng nghìn con lợn bị tiêm thuốc an thần trước khi giết mổ bán ra thị trường, Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Nguyễn Xuân Cường đã ra văn bản gửi Chủ tịch UBND các tỉnh yêu cầu tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các trường hợp tiêm thuốc an thần cho lợn trước khi giết mổ, tiêu thụ.

Đồng thời, chỉ định 2 phòng thí nghiệm của Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc thú y Trung ương 2 và của Chi cục Thú y TP.HCM, trong đó, Trung tâm Kiểm nghiệm thuốc thú y Trung ương 2 chịu trách nhiệm xác định hàm lượng thuốc an thần trong thịt lợn. Bộ NN&PTNT cũng đang đề xuất Vụ KHCN phối hợp với các viện nghiên cứu tìm “ngưỡng phát hiện” và “ngưỡng an toàn” thì ngưỡng nào sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng.

Kết quả hình ảnh cho thuốc tiêm an thần cho lợn
Dụng cụ và thuốc tiêm an thần cho lợn được phát hiện tại cơ sở giết mổ Xuyên Á hồi tháng 9/2017.

Các chi cục thú y tăng cường kiểm tra, kiểm soát giết mổ và phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra việc tiêm thuốc an thần vào lợn. Cục Thú y (Bộ NN&PTNT) đã yêu cầu 7 doanh nghiệp nhập khẩu thuốc an thần thú y và 3 cơ sở sản xuất thuốc an thần thú y phải tuân thủ quy định mới: Các cơ sở sản xuất thuốc thú y để nhập khẩu thì tiếp tục thực hiện sản xuất theo các hợp đồng đã ký, nhưng phải chịu kiểm soát chặt chẽ trong việc cung ứng và sử dụng của cơ quan chức năng.



Còn các doanh nghiệp nhập khẩu thuốc an thần thú y để sử dụng theo nhu cầu trong nước, Cục Thú y đề xuất tạm thời rút giấy phép trong vòng 2 năm để lập lại trật tự và kiểm soát việc sử dụng thuốc an thần thú y trong lĩnh vực thú y.


“Về góc độ ATTP, Bộ NN&PTNT đề nghị Bộ Y tế sớm quy định về “ngưỡng” tồn thuốc an thần trong thịt, nhưng đối với hoạt chất Acepromazine lại chưa có quy định về ngưỡng cho phép. Hiện nay cần có đề tài nghiên cứu. Bộ NNPTNT rất mong cùng phối hợp với Bộ Y tế để ban hành quy định về vấn đề này” – ông Phạm Tiến Dũng nhấn mạnh.

Các thương lái thường tiêm thuốc an thần cho heo nhằm để heo bớt “quậy”, bởi heo bị sử dụng chất cấm trong chăn nuôi sẽ vùng vẫy rất dữ khi được đưa vào giết mổ, ngoài ra còn giúp thịt đẹp nhờ giãn mạch sau khi tiêm thuốc. Chất an thần tồn dư trong thịt lợn không gây chết người ngay nhưng gây ảnh hưởng đến sức khỏe nhất định.

Theo báo Tuổi trẻ, TS Lê Thanh Hiền – Trưởng bộ môn Bệnh truyền nhiễm và thú y cộng đồng (ĐH Nông lâm TP.HCM), người sử dụng sản phẩm có chứa tồn dư thuốc an thần có thể dẫn tới các triệu chứng hạ huyết áp, lừ đừ, không tập trung, tăng cân, khô miệng, táo bón, dị ứng, buồn ngủ, trầm cảm kéo dài, giảm khả năng điều hòa thân nhiệt…

Nếu trong trường hợp có tương tác với thuốc khác có thể làm tình trạng lâm sàng phức tạp hơn. Đặc biệt, triệu chứng này sẽ trầm trọng hơn đối với trẻ em, người già và những người có tiền sử về bệnh tim mạch, gan, thận.

Chính vì vậy, để chấn chỉnh tình trạng sử dụng thuốc an thần trong giết mổ thời gian tới, Sở NN&PTNT TP.HCM đã kiến nghị Bộ NN&PTNT quy định hàm lượng tồn dư tối thiểu hoặc không được có trong thịt và phương pháp phát hiện chất an thần.

Bộ NN&PTNT cũng đề xuất trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, điều chỉnh Nghị định 90 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thú y theo hướng tăng mức xử phạt vi phạm hành chính, bổ sung hình thức buộc xử lý tiêu hủy đối với hành vi sử dụng thuốc an thần tiêm cho lợn. Trong thời gian chờ bổ sung điều chỉnh quy định, đề nghị cho phép cơ quan chức năng được xử lý tiêu hủy đối với các trường hợp xét nghiệm phát hiện tồn dư Acepromazine trong nước tiểu và thịt.

Thứ Sáu, 26 tháng 1, 2018

Độc đáo chợ mua bán cỏ đồng giá ở miền Tây

Ở xã Ô Lâm (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) có một ngôi chợ rất đặc biệt, chỉ bán duy nhất mặt hàng là cỏ dại. Không ồn ào, náo nhiệt như những phiên chợ khác, nhưng chợ cỏ xã Ô Lâm mang một nét đẹp bình dị mà không nơi nào có.
Chợ mua bán một… giá

Chợ cỏ Ô Lâm nằm trên một mảnh đất trống dọc bờ kênh Ninh Phước, xã biên giới Ô Lâm, huyện Tri Tôn. Đúng như tên gọi, chợ chỉ bán duy nhất mặt hàng là cỏ dại. Chợ họp quanh năm, nhưng đông đúc nhất là vào mùa nước nổi.
Điều đặc biệt của chợ này là, người mua không cần mặc cả, vì chỉ bán một giá là 10.000 đồng/3 bó cỏ (5kg). Những người mua bán đều là mối thân quen vì thế dù không có ban quản lý nhưng ở đây vẫn luôn diễn ra vui vẻ, nhịp nhàng.
Nói về nguyên nhân hình thành chợ này, nhiều người cho biết, trước đây ở vùng giáp biên giới Tây Nam người dân chỉ trồng 2 vụ lúa, xen vào đó vụ hoa màu, hoặc có khi bỏ đất trống chính vì thế mà những cánh đồng cỏ bát ngát mọc lên nhiều. Để tận dụng nguồn cỏ tự nhiên, người dân nơi đây đã phát triển việc nuôi trâu bò.
20170824-140044.jpg
 
20170824-140227.jpg
 
Người dân đang mang cỏ lên chợ để bán

Thời gian gần đây những cánh đồng cỏ thu hẹp dần nên việc chăn thả gia súc ngày một khó khăn. Nhất là trong mùa nước nổi, khi cả cánh đồng mênh mông nước, lượng thức ăn cho trâu bò khan hiếm.
Từ đó, nhiều người dân tộc Khmer ở Ô Lâm nghĩ ra cách cắt cỏ đem về bán cho những hộ chăn nuôi gia súc quanh vùng. Thấy nghề này kiếm tiền được nên nhiều người rủ nhau cùng làm. Dần dần cắt cỏ trở thành nghề chính của nhiều bà con ở Khmer xã Ô Lâm.
Chợ bắt đầu lúc 11h tới khảng 15h hàng ngày. Mặt hàng ở đây chủ yếu là cỏ dại ở ven sông rạch, đồng hoang như: xả, mật, lùn,…
20170824-143111.jpg
16h chợ chỉ còn lại một vài người
 

Điểm độc đáo của chợ cỏ này là không cần phải quầy sạp trưng bày. Người bán chỉ chất cỏ hai bên bờ, người mua chỉ việc tìm chọn những bó cỏ đẹp, ngon. Có nhiều loại cỏ được bày bán nhưng đều cùng một giá tiền, ai tới trước thì lựa được những bó cỏ tươi non hơn những người tới sau.
Cũng có khi chuyện mua bán không giao dịch bằng tiền mà được trao đổi bằng hàng hóa như đổi cỏ lấy bắp ngô, hoặc trái cây…
Những “bóng ma” trên đồng cỏ
Ông Lê Văn Ba (71 tuổi)- sinh sống cạnh chợ cỏ cho biết: “ Trước kia chợ cỏ này hoạt động sôi nổi lắm, có khi tới 22h, xe ra vào tấp nập.
Có những người mua mang cả xe tải tới chở cỏ. Mỗi ngày cả trăm người mua bán. Những năm gần đây thì chợ cỏ hoạt đồng kém hơn xưa vì giờ ở đây gieo cấy được 3 vụ lúa nên người nuôi trâu bò lấy thức ăn từ rơm.
Bà con mua bán ở chợ này đều là người Khmer vì họ có tập quán nuôi bò trong chuồng chứ không chăn thả như những nơi khác”.
Ngoài việc “săn” cỏ các khu rừng tràm trong xã và các địa phương lân cận những người dân nơi đây còn vào tận vùng Đầm Trích (thuộc tỉnh Kiên Giang) để cắt cỏ. Cứ sáng sớm những người dân nơi đây lại tủa đi khắp vùng lân cận cắt cỏ mang về bán ở chợ Ô Lâm bán.
20170824-140301-1.jpg
Chị Lâm Thị Thiết đang sắp những bó cỏ lên xe cho khách
 

Chị Lâm Thị Thiết (36 tuổi) một người bán cỏ tại chợ Ô lâm cho biết: “Gia đình tôi đã cắt cỏ bán ở chợ này được 3 năm nay. Mỗi sáng, tôi dậy sớm nấu cơm cho hai vợ chồng mang đi ăn sáng, ăn trưa đỡ tốn tiền. Một ngày chồng cắt được từ 60 tới 70 bó với giá bán 10.000 đồng/3 bó, trừ hết chi phí một ngày cũng được khoảng 150.000 đồng. Cũng có tiền mua gạo lại có cỏ cho bò nhà ăn”.
Cũng theo chị Thiết, nghề này cũng không khó nhưng không phải ai cũng làm được, vì cũng có những sự nguy hiểm.
“Chúng tôi thường xuyên phải chạy xuồng máy vào những bờ sông kênh rạch hoang vắng để cắt vì ở đó ít người tới. Thấy chúng tôi thoắt ẩn thoắt hiện nên nhiều người gọi chúng tôi là những bóng ma trên đồng cỏ”, chị kể.

Thứ Tư, 24 tháng 1, 2018

Hội nhập TPP: Thách thức chờ đợi ngành thức ăn chăn nuôi

Một nghịch lý đáng buồn đang diễn ra trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi ở VN là dù chỉ có 58 nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi nhưng các DN có vốn đầu tư nước ngoài đang chiếm gần 60% thị phần. Trong khi đó, dù có đến 141 nhà máy nhưng các DN trong nước lại chỉ chiếm chưa đến 40% thị phần.


Những cái tên đình đám như CP của Thái Lan (dẫn đầu thị trường) và Cargill của Mỹ (xếp thứ hai) chiếm tới 30% thị phần thức ăn chăn nuôi

Từ năm 2014 đến nay, các doanh nghiệp nước ngoài đã và đang đầy mạnh các hoạt động đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công nghệ mới nhằm mở rộng thị trường và áp đảo các DN nội địa. Và trên thực tế, từng ngày từng giờ, thị phần của các DN trong nước đang nhỏ dần đi còn của các đối thủ ngoại thì đang phình to ra.

Đối thủ ngoại phình to


Thị trường thức ăn chăn nuôi VN được đánh giá rất tiềm năng, theo ông Lê Bá Lịch – Chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi VN: “Nhu cầu thức ăn chăn nuôi ở VN luôn đạt mức tăng 13 – 15%/năm, dự báo từ năm 2015 trở đi ngành này cần 18 – 20 triệu tấn thức ăn công nghiệp, doanh số hằng năm lên tới 6 tỉ USD. Điều đáng buồn là thị trường béo bở này lại đang bị các DN ngoại chiếm phần lớn, còn các DN trong nước thì chịu phần ít hơn. Trong những năm gần đây, tình hình càng tồi tệ hơn khi các DN ngoại không ngừng mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình”.

Trong đó, phải kể đến những cái tên đình đám như CP của Thái Lan (dẫn đầu thị trường ) và Cargill của Mỹ (xếp thứ hai), với tổng thị phần của cả hai doanh nghiệp chiếm tới 30% toàn thị trường. Còn đối với các DN Việt, từ xưa đến nay vốn đã kinh doanh nhỏ lẻ, thiếu bài bản và quyết liệt này lại càng khó khăn hơn khi thời gian vừa qua lĩnh vực chăn nuôi gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh, thiếu ứng dụng công nghệ…Cùng với đó là sự cạnh tranh quyết liệt của các đối thủ càng làm cho tình hình của các DN trong nước gần như rơi vào bế tắc. Nỗi lo lắng càng lên cao hơn khi sắp tới đây TPP có hiệu lực, các DN ngoại đổ bộ nhiều hơn, mạnh mẽ hơn thì có thể các DN của ta sẽ phải nhường hết “sân nhà” cho các đối thủ. Điều này đang khiến các DN sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước như ngồi trên đống lửa và nhiều DN đang nỗ lực hết mình để đi tìm giải pháp. Chính vì điều này, chương trình Chìa Khóa Thành Công – CEO đã đưa lên sóng chủ đề “Chiến lược cạnh tranh thời TPP – Lựa chọn thị trường” lúc 10h, Chủ nhật, ngày 17/1/2016 để các chuyên gia, các doanh nhân, bàn bạc, mổ xẻ để tìm ra giải pháp.

Sao phải “gò” chân mình


Vấn đề của một DN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất thức ăn chăn nuôi. Các sản phẩm của DN chủ yếu đang phục vụ cho các hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ tại các tỉnh. Nhận thấy khi hiệp định TPP có hiệu lực, DN sẽ gặp phải sự cạnh tranh rất lớn đến từ các đối thủ mới và cũ. Với quy mô nhỏ và năng lực cạnh tranh thấp như hiện nay, doanh nghiệp sẽ không thể cạnh tranh để phát triển, cũng không thể tận dụng được những lợi thế của TPP. Đồng thời, DN rất có nguy cơ bị bật ra khỏi thị trường. Trước tình hình đó, CEO và các cổ đông đã ngồi lại với nhau để tìm giải pháp. CEO cho rằng: “Để có thể tận dụng những lợi thế, đồng thời đối phó được với những thách thức thời TTP, DN cần thay đổi chiến lược, chuyển sang cung ứng thức ăn gia súc cho các nhà sản xuất thịt chăn nuôi xuất khẩu. Bởi vì sắp tới, thị trường này sẽ phát triển mạnh, các nhà sản xuất thịt sẽ cần các nhà cung cấp thức ăn chăn nuôi đạt chuẩn nội khối để vào được TPP.
Kết quả hình ảnh cho thức ăn chăn nuôi
Những thách thức lớn đang chờ đợi ngành thức ăn chăn nuôi trong nước. 


Muốn vậy, DN cần phải tìm kiếm và đầu tư để thay đổi nguồn nguyên liệu. Vì hiện nay, nguồn nguyên liệu của Cty chủ yếu nhập từ các thị trường không thuộc nội khối TPP (chủ yếu là Trung Quốc). Điều này sẽ khiến DN không thể hợp tác với các nhà sản xuất thịt chăn nuôi xuất khẩu được”. Không đồng tình với quan điểm của CEO, các cổ đông cho rằng: “Trước mắt công ty nên tiếp tục kiên trì với thị trường cùng nguồn nguyên liệu truyền thống hiện nay. Với mức thu nhập của VN, thì thị trường chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn còn rất rộng và rất bền. Bên cạnh đó, nên mở rộng thị trường ra khắp các tỉnh thành”.

Đồng ý với quan điểm của cổ đông, bạn Minh Quang chia sẻ: “Đồng tình với cổ đông. Với mức thu nhập của VN, thì thị trường chăn nuôi nhỏ lẻ vẫn còn rất rộng và rất bền”. Ngược lại với quan điểm của Minh Quang, khán giả có nick facebook Thành Trần chia sẻ: “Rất đồng tình với CEO. Xu thế tất yếu sau hội nhập là phải mở rộng xuất để đẩy mạnh xuất khẩu. Cửa đã mở chắc chắn có hướng đi. DN xuất khẩu thịt sẽ tìm đường mà mở rộng quy mô vậy tại sao mình phải tự gò chân mình ở một cái sân nhỏ?” Những quan điểm này góp phần làm ý nghĩa của chương trình được nhân rộng.

Dừng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh kích thích sinh trưởng

Cục Chăn nuôi - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) vừa ban hành công văn số 468/CN-TAWCN ngày 31/3/2017 về việc dừng nhập khẩu các sản phẩm thức ăn chăn nuôi (TACN) có chứa kháng sinh kích thích sinh trưởng.

Theo đó, kể từ ngày 01/5/2017, Cục Chăn nuôi yêu cầu các đơn vị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm (đơn vị nhập khẩu) dừng nhập khẩu TACN có chứa kháng sinh kích thích sinh trưởng ngoài quy định tại Thông tư 06/2016/TT-BNNPTNT ngày 31/5/2016 của Bộ NN&PTNT (Thông tư 06).

Các đơn vị nhập khẩu có trách nhiệm giám sát để đảm bảo không còn bất kỳ sản phẩm nhập khẩu nào ngoài quy định Thông tư số 06 do đơn vị nhập khẩu trước đó còn lưu thông trên thị trường sau ngày 30/6/2017.
Kể từ ngày 01/10/2017, dừng nhập khẩu tất cả các sản phẩm TACN chứa kháng sinh kích thích sinh trưởng. Các đơn vị nhập khẩu có trách nhiệm giám sát để đảm bảo không còn TACN chứa kháng sinh kích thích sinh trưởng do đơn vị nhập khẩu trước đó còn lưu thông trên thị trường kể từ ngày 01/01/2018.

Cục Chăn nuôi cũng yêu cầu đơn vị nhập khẩu nộp báo cáo tình hình nhập khẩu, tiêu thụ TACN chứa kháng sinh đã nhập khẩu trước đó và kế hoạch tiêu thụ TACN chứa kháng sinh đăng ký nhập khẩu khi đăng ký kiểm tra chất lượng TACN có chứa kháng sinh kể từ ngày 10/4/2017.

Việc dừng nhập khẩu TACN chứa kháng sinh nhằm thực hiện lộ trình hạn chế để tiến đến không sử dụng kháng sinh kích thích sinh trưởng trong thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm kể từ ngày 01/01/2018 theo quy định tại Thông tư 06 của Bộ NN&PTNT.

Ảnh minh họa. 

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

Những trường hợp được miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi, thủy sản nhập khẩu

Kết quả hình ảnh cho hội nghị thức ăn chăn nuôi
Ảnh minh họa. 

Tại Nghị định số 39/2017/NĐ-CP ngày 04/4/2017 của Chính phủ về quản lý thức ăn chăn nuôi, thủy sản đã quy định các trường hợp miễn và miễn có thời hạn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi thủy sản nhập khẩu.
Theo đó, các trường hợp được miễn kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi thủy sản (TACN) nhập khẩu, bao gồm:
TACN tạm nhập tái xuất; TACN quá cảnh, chuyển khẩu; TACN gửi kho ngoại quan; TACN là hàng mẫu tham gia các hội chợ, triển lãm; TACN là mẫu phân tích tại các phòng thử nghiệm; TACN là mẫu để thử nghiệm, kiểm nghiệm, khảo nghiệm.
Việc miễn kiểm tra chất lượng có thời hạn được áp dụng đối với lô hàng nhập khẩu đáp ứng đủ các điều kiện sau:
Là TACN nhập khẩu cùng loại do cùng cơ sở sản xuất, của cùng đơn vị NK đã có giấy xác nhận chất lượng của 05 lô hàng NK liên tiếp theo chế độ kiểm tra thông thường; hoặc 03 lô hàng NK liên tiếp theo chế độ kiểm tra giảm có thời hạn trong thời gian không quá 12 tháng trước đó.
Việc miễn kiểm tra chất lượng có thời hạn không áp dụng đối với các sản phẩm thức ăn chăn nuôi có chứa kháng sinh.
Trong thời hạn được miễn kiểm tra chất lượng có thời hạn, cơ quan kiểm tra nhà nước hoặc tổ chức chỉ định được giao nhiệm vụ giám sát hàng hóa theo chế độ miễn kiểm tra chất lượng có thời hạn có thể tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên hàng hóa NK theo chế độ kiểm tra thông thường hoặc kiểm tra đột xuất khi phát hiện có dấu hiệu vi phạm về chất lượng sản phẩm.
Nếu phát hiện sản phẩm không đảm bảo chất lượng thì tiến hành các biện pháp xử lý như đối với những lô hàng vi phạm chất lượng và kiến nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền chấm dứt ngay việc miễn kiểm tra chất lượng có thời hạn tại thời điểm đó và chuyển sang chế độ kiểm tra chặt.
Tổ chức, cá nhân NK có thức ăn chăn nuôi, thủy sản đáp ứng các yêu cầu miễn kiểm tra chất lượng có thời hạn nêu trên gửi hồ sơ về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
Hồ sơ bao gồm các giấy tờ sau: Đơn đề nghị miễn kiểm tra chất lượng TACN có thời hạn; Giấy xác nhận chất lượng của 05 lô hàng liên tiếp đạt yêu cầu theo chế độ kiểm tra thông thường hoặc giấy xác nhận chất lượng của 03 lô hàng liên tiếp đạt yêu cầu theo chế độ kiểm tra giảm có thời hạn (bản sao chụp có xác nhận của đơn vị NK).
Tổ chức, cá nhân NK có trách nhiệm gửi bản sao chứng thực văn bản áp dụng chế độ miễn kiểm tra chất lượng có thời hạn đến tổ chức được chỉ định để xác nhận việc miễn kiểm tra vào giấy đăng ký kiểm tra xác nhận chất lượng cho từng lô hàng nhập khẩu làm điều kiện để thông quan hàng hóa.

Thứ Tư, 17 tháng 1, 2018

Vị trí hiện tại của Việt Nam về nghiên cứu thức ăn dinh dưỡng vật nuôi

Việt Nam nghiên cứu thức ăn dinh dưỡng gia súc còn tương đối thấp so với sự phát triển của thế giới, điều kiện cơ sở vật chất còn giới hạn, kinh phí nghiên cứu còn hạn chế. 

Mặc dù hiện nay, ta đã áp dụng thành tựu khoa học của thế giới như sử dụng các chế phẩm sinh học được sản xuất bởi các công ty trên thế giới nhưng những gì chúng ta làm được còn rất hạn chế so với thế giới. Nếu ta không đi sâu vào nghiên cứu, ứng dụng công nghệ tiến bộ và công nghệ gen trong thức ăn và dinh dưỡng gia súc thì Việt Nam sẽ tự động trở thành thị trường tiêu thụ của thế giới. Chính vì thế trong thời gian sắp tới cần áp dụng công nghệ sinh học tạo ra những chế phẩm sinh học của Việt Nam. Nghiên cứu giải pháp sản xuất thực phẩm an toàn đáp ứng nhu cầu thị trường xuất khẩu vào bảo vệ môi trường.

Những vấn đề sau đây nằm trong số những điều chưa được biết tới trong lĩnh vực dinh dưỡng hoặc nằm trong số những liên quan đến vấn đề dinh dưỡng cần được cải thiện và chúng tuỳ thuộc vào sự cố gắng của các nhà dinh dưỡng.

1. Tăng cường nghiên cứu nhiều hơn về nhu cầu dinh dưỡng của gia súc. 

Chúng ta biết rằng các chất dinh dưỡng cần thiết cho gia súc với một số lượng nhất định. Sự dư thừa dinh dưỡng có thể gây độc và những chi phí không cần thiết. Việc sử dụng không hiệu quả sẽ dẫn tới bệnh thiếu dinh dưỡng và sự mất cân bằng cơ thể. Cần thiết là, xác định tất cả các dưỡng chất được yêu cầu và cách thức mà chúng tương tác lẫn nhau. Cần nhận thức được rằng giá trị của các chất dinh dưỡng có lẽ là quan trọng hơn thành phần của chúng.

2. Chúng ta cần biết nhiều hơn về hệ thống năng lượng thuần như cách tính toán hiện nay, năng lượng thuần thể hiện sự đáp ứng đã được dự đoán trước ở gia súc đối với một hỗn hợp thức ăn được cung cấp trong điều kiện môi trường chưa được vận động một cách hoàn toàn. 

Hệ thống năng lượng thuần cho phép đánh giá nhu cầu năng lượng của con vật, cho các chức năng sinh lý và sản xuất khác nhau, sự cải thiện thêm nữa cần thiết được nghiên cứu, thực hiện.
Kết quả hình ảnh cho khoa học thức ăn chăn nuôi
Ảnh minh họa 

3. Trong tương lai, chúng ta cần cung cấp cho gia súc nhiều thức ăn thô xanh và ít thức ăn hạt ngũ cốc hơn để giảm áp lực cạnh tranh với con người, khi dân số gia tăng thì nhu cầu về lương thực là các hạt ngũ cốc cũng tăng lên. Sự thay đổi trong cách nuôi dưỡng gia súc là điều rất cần thiết . 

Các thay đổi sẽ theo các hướng lệ thuộc vào thức ăn thô xanh và ít hơn vào thức ăn hạt. Gia súc nhai lại có thể chịu được sự chuyển đổi này một cách dễ dàng, chúng sẽ là những kẻ tiêu thụ chất thô, chuyển đổi một lượng khổng lồ các chất liệu thô và các phế phụ phẩm thành protein chất lượng cao trong thịt và sữa.

4. Chúng ta cần biết nhiều hơn về tập tính của gia súc và môi trường, sự tập trung hướng vào số lượng và chất lượng thịt, trứng sữa, chất sợi và sức kéo của gia súc. 

Việc chăm sóc kém, sự quá nóng nảy buồn rầu, việc cắt đuôi, giam nhốt trong ô chuồng khá chật hẹp bị coi là thô bạo với gia súc. Nhà dinh dưỡng hiện đại phải:

- Xây dựng các công thức khẩu phần phù hợp với các môi trường khác nhau.

- Xây dựng các chương trình dinh dưỡng cho những giai đoạn có stress như giai đoạn cai sữa, vận chuyển, thể trạng mệt mỏi, bị bệnh, nhiệt độ và khí hậu tăng giảm đột ngột… sự phát triển của các chương trình dinh dưỡng trong các giai đoạn stress nên nhận được sự tập trung lưu ý nhiều cũng như việc điều trị bệnh trong y học.


5. Chúng ta cần bảo tồn năng lượng, sự gia tăng dân số và công nghệ sản xuất thực phẩm và thức ăn gia súc đang tạo ra những stress về năng lượng trong những phạm vi không thể dự đoán trước được và đe doạ nghiêm trọng đến sự sinh tồn của con người. 

Trong một thời kỳ có sự thiếu hụt về thực phẩm trên thế giới thì nhà dinh dưỡng là một nhân vật then chốt trong việc thu nhận năng lượng mặt trời chuyển đổi năng lượng này thành những năng lượng dễ tiêu đối với động vật và con người:

- Sự quang hợp năng lượng: các loài thực vật sử dụng năng lượng mặt trời có vai trò rất quan trọng và phương pháp sản xuất năng lượng duy nhất có thể phục hồi được, là quy trình sản xuất thực phẩm và thức ăn cơ bản và duy nhất trên thế giới, và là nguồn cung cấp O2 duy nhất trong khí quyển. Vì vậy, trong một thời kỳ thiếu hụt về thực phẩm trên thế giới thì chắc chắn việc hấp thụ năng lượng mặt trời qua quá trình quang hợp về lâu dài sẽ chứng tỏ là có giá trị.

- Các gia súc chuyển hoá năng lượng, các loại cây khác nhau về sự chuyển hoá năng lượng mặt trời đã hấp thụ được của chúng trên một đơn vị năng lượng đầu vào trong trồng trọt. Các loại cỏ trồng cỏ khô hay cỏ ủ có hiệu quả cao trong việc hấp thu năng lượng mặt trời đòi hỏi năng lượng đầu vào ít để được lợi nhuận cao, sau đó các loài nhai lại sử dụng các loại cỏ, cỏ khô, cỏ ủ (các loại thức ăn không thích hợp cho sự tiêu thụ của con người), đưa ra cách thức chuyển hoá và tích luỹ năng lượng tốt nhất cho con người.

- Các phế phụ phẩm của cây trồng chứa năng lượng, các phụ phẩm của ngành trồng trọt còn lại trên các cánh đồng ở trên và dưới mặt đất có thể chứa năng lượng nhiều hơn 4 – 5 lần so với những gì đã thu hoạch. Nguồn thức ăn đầy tiềm năng này ngày càng được gia súc sử dụng nhiều hơn.

6. Chúng ta cần sử dụng các hoá chất và dược phẩm trong ngành nông nghiệp một cách thận trọng.

Đôi khi con người cần có sự lựa chọn: lựa chọn giữa việc sử dụng các loại kháng sinh và các loại horrmone để cho tăng trọng và hiệu quả kinh tế cao hơn, nhưng rủi ro cao về sức khoẻ con người, cộng với những chi phí thuốc men cao hơn với việc lựa chọn cho gia súc ăn thức ăn tự nhiên để được thực phẩm an toàn hơn. Một ví dụ cụ thể là: Để có sản phẩm an toàn hơn và người tiêu thụ thực phẩm an tâm hơn, Chính phủ Thuỵ Điển đã đi tiên phong trong việc cấm sử dụng một số kháng sinh trong chăn nuôi gia súc, lệnh cấm này ban đầu đã gây thiệt hại cho người chăn nuôi khá nhiều, lợn gà tăng trọng kém hơn, chết bệnh nhiều hơn giá thành sản phẩm cao hơn 15 - 20%. Nhưng sau 2 - 3 năm, người chăn nuôi đã chấp nhận. Nếu muốn ngành chăn nuôi phát triển bền vững thì phải quan tâm đến an toàn thực phẩm.

7. Chúng ta cần kiểm soát sự ô nhiễm, bảo vệ môi trường. 

Ngày nay, sự thức tỉnh của con người trên thế giới về ô nhiễm môi trường như không khí, đất, nước... Chăn nuôi đi đôi với ô nhiễm môi trường vì chất thải là phân, nước tiểu, xác gia súc chết, vi trùng gây bệnh. Dinh dưỡng đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu ô nhiễm nếu đưa ra các giải pháp tăng cường tiêu hoá hấp thu, xác định tiêu chuẩn ăn hợp lý sẽ hạn chế lượng chất thải ra môi trường.

Thứ Sáu, 12 tháng 1, 2018

Lịch sử về quá trình nghiên cứu phát triển thức ăn – dinh dưỡng

Nghiên cứu thức ăn dinh dưỡng cho gia súc đã có lịch sử lâu đời. Ngày nay cùng với sự phát triển của chăn nuôi hiện đại, khoa học về dinh dưỡng ngày càng đạt đến trình độ chuyên sâu cao.

Trước thế kỷ 18, khoa học hầu như không có vai trò thực tiễn trong dinh dưỡng đây là giai đoạn phát triển tự nhiên trước khoa học của dinh dưỡng học.

Tiếp theo là kỷ nguyên của năng lượng hoá học, cha đẻ là nhà hoá học người Pháp Anatonie lourent Leevoiser (1743 – 1794) từ đây việc xác định nhu cầu của cơ thể sống được thực hiện, người ta phát hiện ra các chất bột đường, chất béo, nhưng là những chất cung cấp năng lượng chính cho cơ thể. Nhà nghiên cứu đã tiến hành xác định vai trò của các chất này và nhu cầu của chúng đối với cơ thể.

Năm 1822 Baussingault, phát hiện muối có iod cho người không bị bướu cổ. Bắt đầu từ thế kỷ XX, người ta tin tưởng rằng các chất khoáng bao gồm muối ăn, Ca … và có thể Fe là những chất khoáng quan trọng trong dinh dưỡng gia súc.

Đầu thế kỷ XX, 1 khẩu phần bao gồm đầy đủ bột đường, chất béo, pro cùng 1 lượng chất xơ được cho là khẩu phần hoàn chỉnh.
Kết quả hình ảnh cho chất dinh dưỡng
Ảnh chỉ mang tính minh họa. 
Năm 1912, Basinuk Punkt đã phát hiện ra vỏ bao bên ngoài của vỏ gạo có một chất liên quan đến 1 loại bệnh sau này xác định được là Thiamin (vitamin B1). Từ đó kỷ nguyên vitamin học ra đời. Đến 1930 – 1940, thì phần lớn các vitamin được xác định. Chúng được phân lập trong thức ăn tổng hợp trong phòng thí nghiệm được chia làm 2 nhóm:

Đến giai đoạn này, hầu hết các chất dinh dưỡng được phát hiện và tiếp tục là thời kỳ phát hiện tiêu chuẩn ăn. Tiêu chuẩn ăn là bảng số liệu của một hay nhiều chất cần thiết cho các loài gia súc khác nhau với mục đích nuôi dưỡng khác nhau. Tiêu chuẩn cho ăn được thể hiện ở số lượng các chất dinh dưỡng yêu cầu/ngày hoặc tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong khẩu phần.

Kiểu thứ nhất sử dụng cho gia súc được cung cấp một lượng thức ăn nhất định trong suốt 24giờ và kiểu thứ 2 sử dụng cho gia súc được cho ăn với một khẩu phần không có sự giới hạn về thời gian cung cấp cho con vật. Thực ra việc xác định tiêu chuẩn ăn được xác lập năm 1810 bởi nhà khoa học Đức Thacr. Đến 1859, Grouxen và một số nhà nghiên cứu người Đức khác, đã sử dụng kết quả phân tích protein, chất béo, bột đường để xây dựng công thức tiêu chuẩn ăn cho gia súc ở các nông trại. Ngày nay, các chất dinh dưỡng cần thiết cho gia súc được phát hiện và tiêu chuẩn ăn cho các loài gia súc, gia cầm khác nhau đã được nghiên cứu trên cơ sở nhu cầu các chất dinh dưỡng của chúng khi khám phá ra rằng protein không phải được con vật sử dụng nguyên vẹn mà được sử dụng dưới dạng đơn vị cấu thành a.a, đồng thời với việc khám phá phương pháp xác định thành phần a.a cũng như việc sản xuất công nghiệp axit amin. Thì các nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu về nhu cầu các a.a của gia súc, gia cầm đã xuất hiện. Từ đây, một kỷ nguyên mới về nghiên cứu dinh dưỡng thức ăn của gia súc gia cầm ra đời, kỷ nguyên của a.a. Thành tựu nổi bật của ngành dinh dưỡng là xác định axit amin thiết yếu của Wiliam Rose và các cộng tác viên của trường Đại học Illinois vào năm 1930. Họ đã thiết kế từng a.a ở những mức độ khác nhau và xác định lượng cần thiết để sử dụng tối ưu protein trong khẩu phần. Từ kết quả của các nghiên cứu này, những người làm việc tại Illinois có thể phân loại a.a thành a.a thiết yếu và a.a không thiết yếu. Tuy nhiên, không phải tất cả các a.a có trong protein đều được tiêu hoá và hấp thu hoàn toàn mà có một tỷ lệ nhất định được tiêu hoá, hấp thu, nó tuỳ thuộc vào từng loại protein thức ăn, loại gia súc gia cầm, cũng như còn chịu ảnh hưởng của trạng thái sinh lý của con vật và điều kiện môi trường. Chính vì thế, mà việc xác định nhu cầu a.a tổng số không phản ánh đúng thực tế của con vật sử dụng và từ đó khái niệm a.a tiêu hoá ra đời. Việc nghiên cứu nhu cầu aa tiêu hoá gắn liền với các nghiên cứu invivo về xác định tỷ lệ tiêu hoá của các loại thức ăn trên các loại gia súc gia cầm và trạng thái sinh lý khác nhau. Đồng thời nghiên cứu nhu cầu các a.a thiết yếu không chỉ từng loại riêng lẻ mà còn quan tâm đến tỷ lệ tương đối của từng aa trong pro thức ăn sao cho phù hợp nhất với nhu cầu về a.a cho các mục đích khác nhau của cơ thể gia súc, gia cầm.

- Thập niên 50 – 60 là thời kỳ mới của ngành nghiên cứu gia súc khi các loại kháng sinh có thể làm tăng tốc độ và hiệu quả tăng trọng. Chúng được xem như ”những dược phẩm tuyệt vời”. Sau đó, lần lượt các chất cấy ghép, thức ăn bổ sung xuất hiện, mở ra kỷ nguyên của công nghệ sinh học. Nhờ công nghệ này mà ngày nay người ta có thể kiểm soát được những đặc tính không mong muốn hay sản xuất ra những sản phẩm phục vụ cho nhu cầu, mục đích của con người.

- 1949, Jeeke làm việc trong phòng thí nghiệm Leradle phát hiện ra rằng kháng sinh là một chất mới gì đó được bổ sung vào thức ăn gia súc và chúng có thể cải thiện tốc độ sinh trưởng cũng như hiệu quả sử dụng thức ăn.

- Ngày nay, hơn 1000 loại thuốc được Cục quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép các nhà chăn nuôi sử dụng cho gia súc gia cầm và khoảng 80% số gia súc nuôi lấy thực phẩm được nhận thuốc trong suốt thời gian sống của chúng, khi được sử dụng hợp lý các nhà chăn nuôi đưa tới người tiêu dùng các loại thịt, trứng, sữa không độc, an toàn với một chi phí thấp hơn so với những cách thức sử dụng khác. Hiện nay trong số các loại chất bổ sung và các chất được cấy ghép mới đây đang được kiểm tra và sử dụng là những chất kháng khuẩn khác nhau kể cả kháng sinh, các tác nhân, enzyme và các chất điện giải, các loại hormone hoặc các chất tương tự như hormone để tận dụng tối đa các loại thức ăn ngày càng trở nên khan hiếm để cung cấp cho nhu cầu ngày càng cao trong chăn nuôi. Người ta chú trọng vào nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng khả năng lợi dụng thức ăn của con vật. Đó là nghiên cứu các khả năng chế biến, loại trừ kháng dinh dưỡng, bẻ gãy các liên kết bền vững trong thức ăn để phóng thích các chất dinh dưỡng, làm tăng khả năng tiêu hoá và hấp thu thức ăn, kích thích sinh trưởng cũng như cải thiện sức khoẻ của vật nuôi. Nằm tăng năng suất và lợi dụng thức ăn của vật nuôi, người ta dùng các chất kích thích hoá học như hormone, chất kích thích sinh trưởng, kháng sinh… Tuy nhiên, việc sử dụng các chất này là cực kỳ nguy hiểm, đe doạ đến sức khoẻ con người, khi chúng còn tồn dư trong sản phẩm chăn nuôi. Chìa khoá cho việc sử dụng các loại thuốc một cách an toàn là tuân theo các hướng dẫn cho phép được ghi trên báo bì, nhà chăn nuôi cần biết về các loại thuốc đã được cho phép sử dụng, liều dùng, phương pháp đưa thuốc vào cơ thể và thời gian ngừng sử dụng thuốc. Hơn một nửa các loại dược phẩm mà FDA cho phép sử dụng đòi hỏi thời gian ngưng sử dụng trước khi giết mổ hoặc trước các giai đoạn tiết sữa. FDA nhận thấy rằng khoảng 90% trường hợp vi phạm về chất tồn dư gây ra do các nhà chăn nuôi không đảm bảo cho thời gian ngưng sử dụng thuốc cho gia súc. Bất kỳ loại chất tồn dư bất hợp pháp ở những súc sản bán trên thị trường như: trong thịt, trứng, sữa có thể gây trở ngại cho việc buôn bán và thậm chí có thể dẫn tới việc xử phạt trong việc vận chuyển hàng hoá. Do đó, để sản xuất thực phẩm an toàn cho con người thì phải loại trừ các chế phẩm nguy hại này, nhưng cũng đòi hỏi phải duy trì năng suất vật nuôi. Giải pháp cho vấn đề này là sử dụng các chế phẩm sinh học không gây nguy hại cho người sử dụng, gồm các thảo dược, axit hữu cơ, enzyme probiotic.
Kết quả hình ảnh cho kỹ thuật ghép gen
Sự phát triển kỹ thuật ghép gen

Sự phát triển kỹ thuật ghép gen (còn được biết đến như là sự tổ hợp ADN) đã mở ra một thời đại mới.

23/5/1997, các nhà khoa học ở trường Đại học Callifornia – San Francisco đã thông báo một sự đột phá quan trọng khi một kết quả của việc thay đổi các gen - đưa các vi khuẩn bình thường vào trong các nhà máy có khả năng sản xuất ra insullin, một loại hormone có giá trị cần thiết trong việc điều trị bệnh tiểu đường, mà trước đây chỉ tách ra từ những con lợn, cừu, trâu, bò tại các lò mổ. Nhóm các nhà sản xuất thực phẩm liên kết với nhà sản xuất, nhà chế biến và những người tiêu thụ nắm bắt các lợi ích từ công nghệ sinh học từ sự phong phú của các sản phẩm có chất lượng cao. Tuy nhiên, tiến trình có thể bị chậm lại do quy định và do các vấn đề xã hội và một số nhà sản xuất, chế biến sẽ thay đổi và mất dần. Tuy nhiên, với sự mở cửa của thế kỷ 21, có thể dự đoán rằng tầm quan trọng của sự nuôi cấy nhờ công nghệ sinh học sẽ cạnh tranh với sự phát triển về cơ khí hoá, điều này làm tăng sản lượng nông nghiệp ở Mỹ lên gấp đôi và làm tăng năng suất lao động của con người trong 1 giờ lên gấp 20 lần.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Giá heo dịp Tết nguyên đán khó tăng mạnh

Chưa có năm nào như năm nay, giá heo hơi "chìm sâu" dưới giá thành sản xuất suốt cả năm khiến người chăn nuôi thua lỗ kéo dài. Tuy nhiên, giá heo vào dịp Tết cổ truyền- 2018 theo dự đoán cũng rất khó tăng mạnh.


Dịp Tết Nguyên đán sắp tới được người chăn nuôi cho là cơ hội "vớt vát" chút đỉnh, bởi đây là thời điểm thị trường tiêu thụ mạnh các sản phẩm từ thịt heo. Tuy nhiên theo dự đoán của các nhà chăn nuôi và cơ quan chuyên môn thì giá heo rất khó tăng mạnh.
Cơ hội 'vớt vát'

Tổng kết vụ heo năm nay, ông Trần Văn Sáng, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cho biết, chưa có năm nào người nuôi heo lại khó khăn cực kỳ như năm nay.

Hiện nay, giá heo hơi vẫn đứng mức 27-28 ngàn đồng/kg. Tuy nhiên, giá thức ăn lại không thấy giảm. Với tình trạng này, rất khó cho người chăn nuôi khi còn hai, ba tháng nữa là Tết. Gia đình ông Sáng nuôi gần 400 con heo cả nái lẫn thịt, trung bình mỗi ngày tiêu thụ trên dưới 20 bao thức ăn, giá 280 ngàn đồng/bao vị chi mất gần 6 triệu đồng. Với giá cả bán ra như thế, theo ông Sáng, người chăn nuôi lúc này phải cố gắng "ép" lại giá thành sản xuất, tức bằng mọi cách tiết giảm tối đa chi phí nguyên liệu và nhân công để có chút lãi”.

"Hiện tại, tôi đang thả thêm 100 con heo thịt để kịp bán vào đúng dịp Tết Nguyên đán 2018, cũng ráng hy vọng vì dịp tết thường mọi người dùng nhiều thịt heo nên thế nào giá heo phải tăng lên chút ít. Chỉ cần mức giá trên 30 ngàn đồng/kg là người nuôi như tôi đã có chút lãi, vừa trang trải nợ nần vừa có chút vốn đầu tư cho vụ nuôi năm sau”, ông Sáng chia sẻ.

Ông Nguyễn Lợi, chủ một trại heo ở xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất cho biết thêm, nhiều năm qua người nuôi heo không còn chăn nuôi kiểu dồn lực cho dip tết như trước. Thay vào đó, các lứa heo được rải đều và xuất bán liên tục trong năm. Tuy nhiên, thời điểm tết vẫn là lúc mà người chăn nuôi chú trọng bởi đây là lúc thị trường tiêu thụ mạnh sản phẩm thịt heo.

Thế nên, trong tình cảnh chăn nuôi heo tụt dốc suốt năm nay, dịp tết sắp tới được nhiều người nuôi xem là “cứu sinh” để có thể tiếp tục bám trụ với nghề. “Lúc này, không ai nuôi kiểu đầu tư "tất tần tật" vào vụ tết, tuy nhiên, nhà nào cũng chuẩn bị một lượng heo tương đối để bán tết. Gần như ai cũng hy vọng giá heo hơi lên được chút ít để còn gỡ lại chút vốn mà còn nuôi tiếp”, ông Lợi tự tin nói.
Giá heo tăng nhẹ?

Không chỉ ông Sáng, ông Lợi, mà còn nhiều chủ trại heo khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng đang cố gắng cầm cự và tìm cách giữ đàn để chờ giá, thay cho giải pháp tạm ngưng chăn nuôi như trước. Và dịp Tết Nguyên đán sắp tới là thời điểm mà người chăn nuôi đặt nhiều kỳ vọng giá heo sẽ tăng trở lại.

Trước hết, theo ông Trần Văn Quang, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi-Thú y tỉnh Đồng Nai, căn cứ năng lực cung cầu hiện nay thì dịp Tết Nguyên đán 2018, nguồn cung thịt heo cho thị trường vẫn sẽ được đảm bảo và chắc chắn sẽ không xảy ra tình trạng thiếu thịt heo.

"Mặc dù, giá bán nằm dưới giá thành, tuy nhiên, nó chỉ gây ảnh hưởng đến người chăn nuôi nhỏ lẻ. Trong khi đó, các trang trại lớn, các doanh nghiệp và tập đoàn chăn nuôi do có chuỗi liên kết tốt nên ít bị ảnh hưởng hơn. Do đó, tổng đàn heo trên địa bàn vẫn ổn định ở mức trên 1,7 triệu con, tương đương cùng kỳ năm 2016", ông Quang chia sẻ.
Kết quả hình ảnh cho lợn hơi
Giá heo dịp Tết nguyên đán khó tăng mạnh
Theo Chi cục Chăn nuôi - Thú y, mỗi ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xuất bán gần 9.000 con heo, theo tính toán, lượng heo xuất bán trong những ngày giáp tết có thể sẽ tăng lên, nhưng tổng đàn hiện tại vẫn sẽ đảm bảo được nguồn cung thịt heo cho người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và thị trường TP.HCM.


Còn theo ông Nguyễn Trí Công (Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai), với tổng đàn heo đang có thì nguồn cung thịt cho thị trường tết sẽ được đảm bảo. Người nuôi vẫn đang duy trì đàn, dù không mở rộng nhưng cũng không giảm. Do đó, nguồn cung vẫn khá dồi dào. Vì vậy, tình trạng thiếu thịt heo dịp tết sẽ không xảy ra nhưng giá heo hơi cũng sẽ khó tăng đột biến mà chỉ có thể tăng nhẹ.

Theo ông Công, nguyên nhân khiến giá heo khó có thể tăng cao là do cán cân cung cầu hiện vẫn đang rất chênh lệch. Trong đó, nguồn cung hiện vẫn rơi vào cảnh dư thừa so với cầu, bất chấp việc nhu cầu tiêu thụ thịt heo có thể tăng cao vào dịp tết.

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

Vì sao đồng và kẽm là yếu tố thuận lợi cho sự đề kháng kháng sinh?

Giới thiệu

Kháng sinh được bổ sung trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi từ vài thập kỷ qua. Thuốc được bổ sung không chỉ để điều trị bệnh và phòng các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, mà còn vì mục đích nâng cao năng suất chăn nuôi: hiệu quả kích thích tăng trưởng của kháng sinh đã được biết đến từ những năm 1950. Trên thế giới, kháng sinh đã được sử dụng với số lượng lớn. Ví dụ, trong năm 1994, ngành chăn nuôi Đan Mạch đã tiêu thụ đến 200 tấn kháng sinh, hơn một nửa trong 200 tấn này được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi như yếu tố kích thích tăng trưởng. Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc đã trở thành mối quan tâm lớn, buộc Liên minh Châu Âu ban hành lệnh cấm sử dụng kháng sinh không vì mục đích điều trị bệnh trong chăn nuôi. Những chất khác được biết đến với đặc tính kháng khuẩn và có tác dụng kích thích tăng trưởng được quan tâm nhiều hơn. Kẽm (đặc biệt là oxit kẽm) và đồng thường được bổ sung quá mức trong khẩu phần thức ăn cho heo để cải thiện sức khỏe đường ruột. Nhưng vai trò của những chất này trong cuộc chiến chống lại tình trạng đề kháng kháng sinh hoàn toàn không khả quan. Hiện nay các nước trên thế giới đang thực hiện nhiều giải pháp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi để làm giảm thiều đến mức cho phép đề kháng kháng sinh. 

Thực trạng hiện nay

Kẽm là một nguyên tố vi lượng thiết yếu cần cho sự sống của sinh vật. Từ lâu, tác động tích cực của kẽm trên hiệu suất tăng trưởng đã được công nhận trong chăn nuôi heo: thiếu hụt kẽm làm giảm ăn, sinh trưởng kém, suy yếu hệ thống miễn dịch, và trong trường hợp nặng thì heo bị tổn thương da (viêm da á sừng). Theo Hiệp Hội Nghiên cứu Quốc gia, nhu cầu kẽm ở heo từ 50 đến 100 ppm tùy theo độ tuổi và trọng lượng của con vật. Khi hàm lượng kẽm trong nguyên liệu thức ăn thấp, người ta thường bổ sung thêm kẽm vào trong khẩu phần. Ở các nước châu Âu, hàm lượng kẽm bổ sung tối đa trong thức ăn của động vật dạ dày đơn là 150 ppm, tuy nhiên có vài nước cho phép bổ sung kẽm ở liều lượng dược lý (3000 ppm) trong premix điều trị ở giai đoạn heo con sau cai sữa.
Tương tự như kẽm, đồng cũng là một yếu tố vi lượng thiết yếu. Nó đóng vai trò là đồng yếu tố trong cấu trúc của nhiều enzyme và là một chất kích thích tăng trưởng nổi tiếng. Thiếu hụt đồng có thể dẫn đến những vấn đề về thể chất như: sinh trưởng kém, thiếu máu, dị tật ở chân... Nhu cầu đồng ở heo khá thấp (khoảng 4-10 mg/ kg vật chất khô khẩu phần), nhưng đồng thường được bổ sung quá mức. Ở Châu Âu, hàm lượng đồng tối đa trong thức ăn là 170 ppm đối với heo con và 25 ppm với heo lớn hơn.
Những nguyên tố vi lượng trên khi được sử dụng ở hàm lượng cao thể hiện đặc tính kháng khuẩn. Vi khuẩn đã phát triển 4 cơ chế chính để đề kháng lại với kháng sinh - hậu quả của việc sử dụng kháng sinh tràn lan trong sản xuất chăn nuôi như:
- Giảm tính thấm của màng tế bào (giảm protein biểu hiện xuyên màng)
- Làm bất hoạt thuốc (sản sinh enzyme)
- Biến đổi các vị trí gắn kết trên tế bào (thay đổi vị trí gắn của kháng sinh)
- Bơm đẩy những yếu tố độc ra ngoài (thông qua các bơm protein)
Ở Đan Mạch, avoparcin - một kháng sinh thuộc nhóm glycopeptide được sử dụng như chất kích thích tăng trưởng đến năm 1995, ở thời điểm đó, có đến 21% mẫu Enterococcus faecium (E. faecium) phân lập được từ thịt heo kháng lại với avoparcin. Nhận thức rõ mối nguy cơ này, Đan Mạch đã cấm sử dụng kháng sinh không vì mục đích điều trị bệnh trong chăn nuôi ở heo lớn (năm 1998) và đối với heo con (năm 1999). Trong năm 2006, Liên minh Châu Âu đã rút dần việc sử dụng kháng sinh như chất kích thích tăng trưởng trong sản xuất. Đồng và kẽm có thể điều biến hệ vi sinh đường ruột và giúp giảm tiêu chảy heo con giai đoạn sau cai sữa, nhờ đó có thể thay thế một phần kháng sinh. Tuy nhiên, lượng đồng và kẽm dư thừa tác động tiêu cực đến môi trường, và làm phát sinh những dòng vi khuẩn chọn lọc đề kháng lại với đồng và kẽm. Ngoài ra, chúng ta có thể nhận thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa đề kháng kim loại và đề kháng thuốc kháng sinh.

Đề kháng chéo
Sự đa kháng có thể thể lý giải được bằng cơ chế đề kháng chéo. Trong trường hợp này, 1 yếu tố di truyền đơn lẻ quy định cho khả năng đề kháng với một vài nguyên tố (kim loại và thuốc kháng sinh). Ví dụ, vi khuẩn có thể tổng hợp protein vận chuyển mang cả thuốc kháng sinh và kim loại. Ở những vi sinh vật kháng kẽm, các protein bơm đẩy kẽm từ bên trong tế bào ra ngoài; các bơm này có thể chỉ đẩy mỗi kẽm hoặc chấp nhận đẩy thêm các phân tử khác. Do đó, vi khuẩn kháng kẽm cũng có thể kháng được một hoặc nhiều loại kháng sinh.

Đồng đối kháng

Sự đa kháng cũng có thể kết hợp với đồng đối kháng. Ở trường hợp này, các gen đề kháng khác nhau thay đổi vị trí trong cùng nhân tố di truyền giống nhau, trong nhân tố di truyền di động nói chung như plasmid. Có một vài tổ hợp thuốc kháng sinh kết hợp với kim loại được nghiên cứu như: đề kháng kẽm liên kết với đề kháng methicillin ở Staphylococcus aureus (S. aureus) hoặc đề kháng đồng liên quan đến đề kháng macrolide và glycopeptide ở E. faecium.

Kẽm

CzrC là tên của 1 gen quy định đề kháng cadmium và kẽm trong S. aureus. Một nghiên cứu dựa trên những mẫu phân lập trên heo ở nhiều nước khác nhau đã chứng minh rằng 95% gen czrC tìm thấy trong các chủng phân lập đề kháng với kẽm. Ngược lại, dưới 1% các chủng phân lập liên quan với crzC nhạy cảm với kẽm. Kết quả thí nghiệm cho thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa đề kháng kẽm và đề kháng methicillin: trong số các chủng nhạy cảm với methicillin, tất cả đều nhạy cảm với kẽm clorua - và trong các chủng kháng methicillin, hơn 90% đề kháng được kẽm clorua.
Trong một nghiên cứu khác, trên các chủng phân lập ở heo Đan Mạch, không có chủng nào nhạy cảm với methicillin và 74% chủng kháng methicillin cũng đề kháng với kẽm. Bình quân, nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của kẽm ở những vi khuẩn đề kháng cao gấp 4 lần so với MIC bình thường, MIC: 8 mM của methicillin kháng S. aureus (MRSA) so với nồng độ MIC: 2 mM ở những chủng S. aureus nhạy cảm với methicillin (MSSA). Nói tóm lại, sự chọn lọc những chủng vi khuẩn kháng kẽm cũng đồng nghĩa chọn lọc những dòng vi khuẩn kháng kháng sinh (Hình 1).

​Ở châu Âu, Canada và Mỹ (Trung Tây), sự xuất hiện của MRSA với bộ gen di truyền tương tự (dòng vô tính phức hợp 398) được tạo ra dễ dàng bằng cách sử dụng tetracycline và oxit kẽm. Gần đây, các chủng này cũng được tìm thấy ở Úc và ở New Zealand. Các thí nghiệm với các mẫu vi khuẩn MRSA phân lập từ mũi heo được tiến hành và cho kết quả đếm khuẩn MRSA cao hơn ở những heo được điều trị với kẽm hoặc với tetracycline. Vi khuẩn đề kháng thuốc lan truyền rất nhanh: sau ba tuần, tất cả heo âm tính với MRSA được nuôi nhốt chung với những heo dương tính MRSA đều cho kết quả dương tính. Một hiện tượng tương tự cũng được quan sát thấy khi thử nghiệm với đồng.
Đồng
Đồng là yếu tố áp lực có lợi cho chọn lọc vi khuẩn kháng macrolides và glycopeptide. Sự chuyển gen đề kháng đồng thường thấy ở vi khuẩn gram âm, hiếm gặp ở vi khuẩn gram dương. Sự đề kháng này có liên kết với gen tcrB (gen kháng đồng biến nạp tương tự với copB). Một nghiên cứu trên các mẫu E. faecium phân lập ở Đan Mạch cho thấy sự hiện diện của gen này có liên quan trực tiếp đến hàm lượng đồng trong khẩu phần thức ăn. Tình trạng kháng đồng phổ biến ở các mẫu phân lập trên heo (45/59 mẫu phân lập), khá phổ biến ở gia cầm (10/29) và hiếm gặp ở các mẫu phân lập từ bê (5/32), cừu (0/22) và trên người (3/29). Những mẫu phân lập trên heo cho kết quả kháng đồng cao có thể lý giải là do hàm lượng đồng bổ sung vào thức ăn nhiều hơn. Ngoài ra, hơn 50% các chủng phân lập trên heo đều kháng macrolides và gần 25% kháng glycopeptide.
Trong nghiên cứu này, tất cả các chủng kháng glycopeptites đều kháng với macrolides và đồng, và tất cả chủng kháng với macrolides đều kháng đồng; chỉ có 4 chủng vi khuẩn phân lập kháng đồng (dưới 10% của nhóm thí nghiệm) nhạy cảm với kháng sinh. Gen tcrB, quy định sự kháng đồng, và erm(B), quy định đề kháng macrolides, dường như cùng nằm trong plasmid phân lập trên heo; gen kháng glycopeptide cũng có thể liên kết về mặt vật lý với gen tcrB.
Vì phân heo có thể được sử dụng làm phân bón nên sự kháng kháng sinh có thể lan truyền trong đất. Một nghiên cứu chỉ ra sự tương quan giữa các vi sinh vật kháng kháng sinh và kháng đồng trong đất: ví dụ, sự xuất hiện của vi khuẩn kháng ampicillin cao hơn đáng kể ở những vi khuẩn kháng đồng, so với vi khuẩn nhạy cảm với đồng. Ngoài ra, tần số bội kháng trong vi khuẩn kháng đồng cao hơn gấp đôi so với các vi khuẩn nhạy cảm đồng.
Những chủng kháng thuốc có thể lan truyền nhanh chóng trong quần thể động vật, giữa động vật và môi trường sống. Nhiều thế hệ kháng sinh dần trở nên kém hiệu quả hơn khi xuất hiện những chủng vi sinh vật chọn lọc đề kháng với kẽm hoặc đồng. Sự chuyển gen di truyền theo chiều ngang có liên quan đến hiện tượng này.
Sự lan truyền vi khuẩn đề kháng
Vi khuẩn nhạy cảm có thể trở thành vi khuẩn đề kháng khi tiếp xúc với vi khuẩn kháng thuốc. Hiện tượng trao đổi di truyền có thể xảy ra giữa các vi sinh vật. Gen kháng thường nằm trong các yếu tố di truyền di động (plasmid, transposon) tạo điều kiện chuyển vật chất di truyền theo chiều ngang. Vi khuẩn có thể chấp nhận các plasmid hoặc transposon từ các tế bào khác thông qua quá trình ghép đôi (tiếp hợp); chúng cũng có thể kết hợp những vật chất di truyền ngoại sinh vào hệ gen của chính mình (biến nạp). Trong trường hợp cụ thể, ADN có thể được chuyển giao giữa những vi khuẩn đề kháng với nhau thông qua thể thực khuẩn (tải nạp). Tiếp đến, vi khuẩn đã trở nên đề kháng có thể chuyển gen đến các tế bào con trong quá trình phân chia tế bào. Do đó, sử dụng kẽm hoặc đồng dư thừa sẽ tạo ra một thế hệ vi khuẩn mới kháng với cả kim loại và kháng sinh.
Do đó, trong cuộc chiến với sự đề kháng thuốc đòi hỏi cần giảm sử dụng thuốc kháng sinh, và cần có những nguồn bổ sung đồng, kẽm tốt hơn, an toàn hơn trong khẩu phần thức ăn cho heo.
Picture
Hình 1: Sự chọn lọc của những chủng vi khuẩn kháng kháng sinh sau một thời gian sử dụng kẽm liên tục

Vai trò của vitamin và khoáng trong chăn nuôi

Vitamin và khoáng chất là những nhân tố không thể thiếu trong hàm lượng thành phần sản phẩm thức ăn chăn nuôi để đảm bảo sức khỏe và phát triển bình thường của vật nuôi. 

Vitamin

Nhiều vitamin là cấu tử của các men cần thiết cho quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể. Phần lớn các vitamin phái đưa từ thức ăn vào cơ thể, chúng thuộc nhóm chất cần thiết cho cơ thể tương tự như axit min cần thiết. Người ta chia các vitamin thành 2 nhóm:
- Nhóm vitamin tan trong chất béo: Là vitamin A,D,E,K thường đi kèm với chất béo của thức ăn. Một khẩu phần có hàm lượng lipit thấp thường ít các vitamin này hoặc cơ thể kém sử dụng các vitamin này.
- Nhóm vitamin tan trong nước: Bao gồm vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin P, VITAMIN U. CƠ THỂ dễ dàng được thỏa mãn nhu cầu các vitamin này khi dùng thức ăn tươi.
Kết quả hình ảnh cho vitamin
 Vai trò của vitamin và khoáng trong chăn nuôi

Khoáng

Khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng giữ vai trò trong nhiều chức phận quan trọng đối với cơ thể. Cơ thể người ta có gần 60 nguyên tố hóa học. Một số chất có hàm lượng lớn trong cơ thể được xếp vào nhóm các yếu tố đa lượng (macroelements), số khác có hàm lượng nhỏ được xếp vào nhóm các vi yếu tố (microelements).
​Các yếu tố đa lượng là Ca (1,5%), P (L%), MG (0,05%), K (0,35%), NA (0,15%) ; Các yếu tố vi lượng là I, F, Cu, Co, Mn, Zn... còn gọi là yếu tố vết. Lượng tro của một người trưởng thành khoảng 2 kg tương đương 4% trọng lượng cơ thể. Khoảng một nửa đường chất khoáng đó là yếu tố tạo hình của các tổ chức xương và tổ chức mềm, phần còn lại nằm trong các dịch thể.
Hàm lượng các chất khoáng trong các mô không giống nhau. Xương chứa nhiều chất khoáng nhất còn da và mô mỡ chỉ chiếm dưới 0,7%. Một số chất khoáng nằm trong các liên kết hữu cơ như iot trong tyroxin, sắt trong hemoglobin, còn PHẦN LỚN CÁC KHOÁNG CHẤT ÐỀU Ở dạng muối. Nhiều loại muối này hòa tan trong nước như natri clond, canxi clond, nhiều loại khác rất ít tan. Quan trọng nhất là các canxi photphat, ma giê photphat của xương.

Một Số Sản Phẩm Vitamin Và Khoáng Chất Lượng Cao
- Alkosel® 3000: là sản phẩm Se hữu cơ trong tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae.
- AZOMITE: có chứa hơn 70 nguyên tố khoáng bao gồm cả khoáng vi lượng và đa lượng

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

Tổng quan về Enzyme


Hiện nay người ta bổ sung thêm vào thức ăn chăn nuôi các enzyme công nghiệp để giúp thú tiêu hóa tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, hạn chế các tác động bất lợi có trong nguyên liệu thức ăn. Vai trò của enzyme trong chăn nuôi rất tích cực ; đặc biệt là đối với chất xơ, phytate có trong cám gạo và ảnh hưởng tích cực đối với môi trường.

1. Đối với chất phytate


Các enzyme phân hủy NSP (như endo-xylanase và bglucanase-glucanase) và phân hủy phytate (như phytase) chứa nhiều trong cám gạo, lúa mì, lúa mạch đen... được ứng dụng rộng rãi trong những khẩu phần ăn không chỉ do vấn đề môi trường, mà vì nó còn có ý nghĩa về mặt kinh tế. 












Tổng quan về Enzyme 



Trong tự nhiên, khoảng 60 - 75% phốt pho có trong hạt ngũ cốc được liên kết hữu cơ dưới dạng phytate, đây là dạng rất khó hấp thu đối với heo. Giá trị sinh học của phốt pho ở hạt ngũ cốc rất biến động từ dưới 15% ở bắp cho tới khoảng 50% ở lúa mì. Trong khẩu phần bắp - khô dầu đậu nành có hai phần ba lượng phốt pho bị liên kết dưới dạng axít phytic. Heo không thể tiêu hóa lượng phốt pho này. Lượng phốt pho bị thải này sẽ giảm đáng kể nếu bổ sung phytase vi sinh vào khẩu phần, men này sẽ giải phóng một số mạch liên kết phốt pho làm cho heo tiêu hóa dễ dàng. Do đó lượng phốt pho vô cơ phải bổ sung thêm để đáp ứng nhu cầu sẽ giảm, lượng phốt pho thải ra có thể giảm 30 - 50%. Hiệu quả của việc bổ sung phytase thay đổi theo từng loại heo, trọng lượng, khẩu phần, mức ăn, tần suất cho ăn, nguồn phytase, lượng phytase bổ sung và tình trạng sinh lý của heo. Không có mức chuẩn cho việc bổ sung phytase cho tất cả các loại khẩu phần bởi vì mức phốt pho tổng số và phốt pho phytate của các loại khẩu phần thay đổi. Enzyme phytase không chỉ làm gia tăng khả năng tiêu hóa phốt pho mà còn làm tăng khả năng tiêu hóa những chất khoáng và các axít amin khác.

2. Đối với chất xơ

Việc sử dụng các enzyme có tác dụng trên chất xơ (NSP) lên thức ăn chăn nuôi, giúp vật nuôi tiêu hóa tốt hơn thức ăn; vừa hạn chế các tác hại của bản thân những NSP gây ra, vừa giải phóng được một phần năng lượng, protein và các axít amin thặng dư. Enzyme tạo điều kiện phóng thích các axít amin, cải thiện khả năng tiêu hóa từng loại axít amin từ 1,7 - 7,9 đơn vị phần trăm (mức cải thiện cao nhất của methionine là 7,9%), giúp tiết kiệm được các axít amin khi bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc, giảm giá thành sản xuất. Sử dụng enzyme giúp cải thiện thành tích của vật nuôi.
Các cải thiện này có được là do sự phối hợp của nhiều yếu tố khác nhau: Sự cải thiện môi trường ruột. Sự cải thiện khả năng tiêu hoá và đặc tính chất độn chuồng. Sử dụng các thực liệu kinh tế hơn. Các yếu tố khác nhau này là do các biểu hiện khác nhau về hoạt động căn bản của enzyme trong thức ăn.
Các hoạt động bao gồm sự giảm độ nhờn trong dưỡng chất ở ruột, giải phóng năng lượng thặng dư từ các thành phần thức ăn khó tiêu hóa như các NSP, giải phóng các dưỡng chất kết dính bên trong vách tế bào... làm tăng giá trị hữu dụng của dưỡng chất. Các yếu tố kháng dinh dưỡng cũng có thể được phân giải.
Nhiều kết quả thí nghiệm cho thấyenzyme có thể được xem như là một chất bổ sung, là một nguồn năng lượng. Đối với hệ vi sinh vật đường ruột, men tiêu hóa có tác dụng làm gia tăng khả năng tiêu hóa thức ăn ở ruột non, do vậy làm giảm quá trình lên men vi sinh ở ruột già, duy trì quá trình thẩm thấu khi heo con tiêu chảy. 
Ngoài ra men tiêu hóa bổ sung còn cho thấy có tác dụng làm giảm độ chênh lệch trọng lượng giữa các vật nuôi trong đàn. Men tiêu hóa cho phép thay thế ngũ cốc chín bằng ngũ cốc sống mà không làm ảnh hưởng đến năng suất vật nuôi. ảnh hưởng của enzyme đã làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng ở bề mặt ruột nhờ vào sự giảm chất nhầy và khả năng giữ nước trong đường tiêu hóa. Điều này có ảnh hưởng tích cực đến lượng ăn vào cũng như sự tăng nhanh lượng vi khuẩn đường ruột.

3. Đối với môi trường


Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang nổ lực tìm cách làm giảm ô nhiễm từ các chất thải ra trong chăn nuôi. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được rằng cần cải thiện khả năng sử dụng các dưỡng chất trong khẩu phần của vật nuôi để hạn chế tối đa lượng phân thải ra. 
Trước đây, do ít quan tâm đến lượng chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài nên hậu quả của việc cho ăn quá nhiều chất dinh dưỡng nhằm tối đa hóa năng suất đã dẫn đến hậu quả là lượng chất dinh dưỡng thải ra quá nhiều qua phân và nước tiểu (chủ yếu là hàm lượng protein, phốt pho và canxi). Qua nhiều nghiên cứu cho thấy việc bổ sung enzyme tỏ ra có hiệu quả trong việc cải thiện các hạn chế trên. 
4. Một số sản phẩm Enzyme hiệu quả 
- AGal-Pro®: Tổ hợp các enzyme NSP và Cellulase, Enzyme đặc biệt dành cho các khẩu phần có khô dầu đậu nành và bắp
- SUPERZYME CS: 8 loại enzyme đậm đặc trong một sản phẩm, bao gồm Phytase, Protease, Invertase, Amylase, Cellulase và các NSP enzymes.
- BERGAZYM® P: có chứa Endo-1,4 Xylanase, đạt hiệu quả phân giải Xylan rất cao. Hơn thế nữa ERGAZYM® P còn có các enzyme khác như Glucanase, Amylase, Protease v.v.. giúp tăng cường tiêu hóa thức ăn và hiệu quả chăn nuôi.

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

Vai trò của Probiotic và Prebiotic đến sức khỏe thú

Probiotic

Probiotic gồm các cá thể hoặc hỗn hợp của vi khuẩn axit lactic, nấm men vi sinh, hoặc các sản phẩm sinh học cuối của chúng. Probiotic sử dụng trong thức ăn chăn nuôi thường được chia thành các loại sau:
1. Các nấm men và vi khuẩn sống;
2. Các nấm men và vi khuẩn đã qua xử lý nhiệt hoặc bật hoạt tính;
3. Sản phẩm lên men cuối cùng từ nấm men hoặc vi khuẩn. Cơ chế hoạt động của men vi sinh probiotic bao gồm:
a. cạnh tranh giữa các loại nấm men và vi khuẩn của probiotic với các vi sinh vât gây bệnh ở niêm mạc ruột;
b. sự hữu hiệu của chất dinh dưỡng;
c. Khả năng áp chế sự phát triển mầm bệnh qua cơ chế sản xuất axit hữu cơ và các hợp chất có đặc tính giống như kháng sinh. 
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng có lợi đối với sức khỏe và khả năng cải thiện hiệu suất phát triển ở động vật của các chủng vi khuẩn men vi sinh. Đặc biệt, probiotic có những tác dụng tích cực đối với:
a) quá trình tiêu hóa – bằng cách gia tăng hoạt động của enzyme vi sinh và khả năng tiêu hóa hấp thụ thức ăn của động vật;
b) khả năng miễn dịch – thông qua cơ chế kích thích hệ thống miễn dịch của động vật và tăng cường khả năng tái tạo tế bào ở niêm mạc ruột.
Tầm ảnh hưởng của việc sử dụng probiotic trong thức ăn chăn nuôi phụ thuộc đáng kể vào cách thức lựa chọn các chủng vi khuẩn để tạo nên hỗn hợp men vi sinh, liều lượng probiotic trong thức ăn, các tương tác của men vi sinh với các loại dược phẩm khác, thành phần thức ăn, và hơn hết là điều kiện bảo quản cùng công nghệ chế biến thức ăn chăn nuôi.
Kết quả hình ảnh cho thức ăn chăn nuôi
Vật nuôi. 

Prebiotic

Prebiotic là các chuỗi ngắn carbohydrates hòa tan (chất xơ hòa tan – oligosaccharides). Prebiotic, đã được khoa học chứng minh, đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe và khả năng phát triển của động vật chăn nuôi, kích thích sự tăng trưởng của một hay nhiều loại vi khuẩn có lợi. Do prebiotic là các chất xơ hòa tan không tiêu hóa được, prebiotic có thể di chuyển tới đại tràng và hoạt động như một nguồn năng lương cho vi khuẩn, không giống như các loại đường sinh học thông thường có thể bị tiêu hóa trực tiếp. Vì vậy, các thành phần và hoạt động vi sinh vật sẽ bị thay đổi, dẫn đến các tác dụng phụ như tăng sản lượng khí và giảm trừ độ pH trong đường ruột. Prebiotic cũng có thể ngăn chặn cơ chế bám dính của các mầm bệnh trên niêm mạc bằng cách cạnh tranh với các thụ đường sinh học của chúng; một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thức ăn được bổ sung với các loại oligosaccharides khác nhau có thể suy giảm khả năng nhiễm khuẩn Salmonella và E.coli.
Các oligosaccharides không tiêu hóa được phổ biến nhất được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi nhằm cải thiện hệ miễn dịch của động vật bao gồm có: Mannanoligosaccharides (MOS), Galactooligosaccharides, fructooligosaccharides (FOS), Soybeanoligosaccharides, Isomaltooligosaccharides, Xylooligosaccharides, lactulose, Inulin.

Một số sản phẩm Probiotics & Prebiotics chất lượng cao

- CALSPORIN®: tác động tích cực của CALSPORIN® đến năng suất vật nuôi, cải thiện tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn cũng như giảm tỷ lệ tiêu chảy và chết.
- BioPlus ® YC: cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa và có khả năng tiết enzyme cao giúp cải thiện khả năng hấp thụ dưỡng chất, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn.
​ - LEVUCELL SB 10 ME TITAN: là tập hợp men sống đậm đặc dòng Saccharomyces cerevisiae boulardii CNCM I-1079, được chon lọc đặc biệt, có tác dụng cải thiện hệ miễn dịch và sức khỏe đường tiêu hóa, hạn chế tiêu chảy và tăng cường tiêu hóa dưỡng chất. Sản phẩm cần thiết cho thú non và thú sinh sản, các loại giống mới năng suất cao.