Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Tư, 22 tháng 11, 2017

Tiến bộ kỹ thuật trong chăn nuôi, giúp nâng cáo giá trị


Việc áp dụng thành công một số các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào lĩnh vực chăn nuôi của Việt Nam chính là một nhân tố đáng khích lệ nhằm duy trì và cải thiện tốc độ phát triển của ngành chăn nuôi trong tương lai.

Những năm qua, Bộ NN-PTNT đã chỉ đạo nghiên cứu và ứng dụng nhiều TBKT vào chăn nuôi.

Theo báo cáo của Cục Chăn nuôi, giai đoạn 2009 - 2016 đã có 72 TBKT được công nhận. Trong đó, giống vật nuôi có 38 TBKT cho các đối tượng lợn, gà, vịt, ngan, ngan lai vịt, ong tằm. Thức ăn chăn nuôi có 5 TBKT về quy trình SX và chế phẩm sinh học. Môi trường chăn nuôi có 7 TBKT về quy trình xử lý biogas và các mẫu công trình khí sinh học. Quy trình chăn nuôi và các công nghệ khác có 22 TBKT về nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng bệnh. Các TBKT đã được ứng dụng, chuyển giao vào thực tiễn SX tại các vùng sinh thái khác nhau trên cả nước.

Bằng nguồn kinh phí Trung ương và địa phương, mỗi năm Trung tâm Khuyến nông Quốc gia triển khai 450 - 500 mô hình trình diễn để chuyển giao các TBKT trong chăn nuôi và có gần 9,2 nghìn hộ dân được hưởng lợi.

Ngoài ra, các cơ quan nghiên cứu, các doanh nghiệp cũng tổ chức hàng trăm điểm trình diễn, giới thiệu các TBKT cho nông dân. Điển hình là các mô hình như cải tạo đàn bò địa phương bằng phương pháp thụ tinh nhân tạo; xây dựng mô hình SX giống gia cầm cho các tỉnh biên giới miền núi phía Bắc; phòng chống dịch bệnh cho gia súc, gia cấp quy mô xã… Nhiều mô hình cho hiệu quả kinh tế cao, có tính thực tiễn có thể nhân rộng.

Từ năm 2009 - 2012, các doanh nghiệp lớn đã nhập trên 60 nghìn con bò sữa HF từ Australia và New Zealand, phần lớn được nuôi quy mô tại Nghệ An. Với việc ứng dụng đồng bộ giống có năng suất cao, ứng dụng chuồng trại có khả năng bức xạ nhiệt mặt trời, giảm nhiệt độ chuồng nuôi, nuôi bò bằng sử dụng thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh TMR, đến nay đã có 52 nghìn con giống bò sữa HF năng suất cao (31% tổng đàn). Trong đó, riêng Tập đoàn TH sở hữu trang trại bò sữa 45 nghìn con với năng suất sữa bình quân 40 lít/con/ ngày. Đây được đánh giá là một trong những trang trại bò sữa có quy mô lớn nhất châu Á hiện nay.
Kết quả hình ảnh cho bò úc nhập về việt nam
Bò sữa giống được nhập về Việt Nam.
Ngoài ra có thể kể đến các TBKT khác như tinh trùng cọng rạ đông lạnh, phân biệt giới tính trong chăn nuôi bò; nhiều giống lợn cao sản được nhập về nuôi tại Việt Nam, xây dựng được hệ thống chăn nuôi lợn 4 cấp cụ kỵ - ông bà - bố mẹ - thương phẩm. Đến nay, tại Việt Nam có 5 chuỗi SX lợn 4 cấp, SX ra khoảng 4 triệu lợn thịt/năm, chiếm 12% thị trường thịt lợn của cả nước. Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp tham gia chuỗi chăn nuôi lợn 3 cấp.
Theo thống kê, trung bình, mỗi năm Việt Nam chuyển giao vào SX 1.700 con lợn giống ông bà, bố mẹ. Nhiều giống gà, hợp gà lai được ứng dụng giúp tăng năng suất, chất lượng, đáp ứng nhu cầu của người chăn nuôi và người tiêu dùng. Về thủy cầm, nhiều TBKT được áp dụng đã giúp người chăn nuôi cung ứng ra thị trường gần 14 triệu con gà các loại, trên 1,5 triệu con vịt, gần 130 nghìn con ngan giống, trên 12 triệu quả trứng...
Tại hội thảo "Giới thiệu các TBKT mới của khối Nhà nước và doanh nghiệp - lĩnh vực chăn nuôi" do Cục Chăn nuôi và Trung tâm Khuyến nông Quốc gia vừa tổ chức tại Nghệ An, TS Hạ Thúy Hạnh, PGĐ Trung tâm Khuyến nông Quốc gia cho rằng, chăn nuôi đang đứng trước nhiều thách thức trong khâu thị trường. Cùng với đó là những khó khăn về biến đổi khí hậu, công tác giống… Vì vậy, cần áp dụng nhiều TBKT, xây dựng chuỗi liên kết nhằm từng bước nâng cao giá trị sản phẩm...
Một trong những phương thức hữu hiệu nhất nhằm đẩy mạnh giá trị sản phẩm TACN chính là việc làm chứng nhận hợp quy cho sản phẩm này, không những tạo niềm tin cho người tiêu dùng, cho đối tác mà còn là một công cụ hữu hiệu để " nâng tầm thương hiệu" cho doanh nghiệp. 

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

Thức ăn chăn nuôi: Việt Nam thua trắng khâu nguyên liệu

TTO - Doanh nghiệp VN đang cấp tập nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vì nguyên liệu trong nước không thể cạnh tranh về giá so với các cường quốc nông nghiệp khác như Mỹ, Argentina, Ấn Độ…


Chỉ trong ba tháng đầu năm 2017, VN đã chi khoảng 22.000 tỉ đồng nhập thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, tăng tới 41,6% so với cùng kỳ năm 2016. Việc tăng cường nhập khẩu giai đoạn này chủ yếu là để sản xuất và dự trữ nhằm tranh thủ mức giá nguyên liệu rẻ.

Đừng mơ thay thế hàng nhập?

Khoảng 4-5 năm trở lại đây, Công ty cổ phần Thanh Bình chỉ sản xuất và kinh doanh các loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu. Trước đó, nguồn nguyên liệu trong nước như bắp, cám gạo, khoai mì luôn chiếm một phần lớn trong cơ cấu nguyên liệu của công ty.

Theo ông Phạm Đức Bình - giám đốc Công ty cổ phần Thanh Bình (Đồng Nai), giá bắp nhập từ Mỹ, Argentina về đến cảng của VN hiện đang được chào bán với giá 4.700 đồng/kg, luôn thấp hơn giá bắp trồng trong nước. Giá bã đậu nành về cũng chưa tới 10.000 đồng/kg thì trong nước không thể cạnh tranh nổi.

Chưa kể, hàng nhập khẩu số lượng muốn mua bao nhiêu cũng có, biết chắc giá cả và phẩm cấp sản phẩm nên doanh nghiệp dễ tính toán cho sản xuất kinh doanh. Trong khi hàng trong nước không ổn định về sản lượng, chất lượng mỗi lúc một khác nhau rất khó cho nhà sản xuất.

Theo một số chuyên gia, dù VN đã có nhiều chính sách khuyến khích chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ lúa sang bắp nhưng thực tế không hiệu quả. Do đặc điểm đất đai cũng như hạ tầng mà việc trồng bắp ở VN khó cơ giới hóa, năng suất thấp, giá thành cao khó cạnh tranh với hàng nhập khẩu.

Chưa kể nhiều diện tích trồng bắp lấy hạt ở các địa phương trồng nhiều như Đồng Nai cũng đã chuyển sang trồng bắp lấy thân làm thức ăn nuôi bò, hoặc chuyển sang trồng các loại cây ăn trái cho thu nhập cao hơn.

Ông Phạm Đức Bình nhận định VN không thể tránh nhập khẩu thức ăn chăn nuôi.

“Đừng mơ đến chuyện tự túc. Đây là vấn đề của phân công lao động. VN có lợi thế về sản xuất lúa quy mô lớn thì nên tập trung vào lúa chất lượng cao chứ không hi vọng sẽ chuyển bớt đất lúa sang trồng bắp để giảm nhập khẩu vì không hiệu quả” - ông Bình nói.

Tăng nhanh vì doanh nghiệp trữ hàng

Ông Lê Bá Lịch, chủ tịch Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi VN, cũng cho rằng việc thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu nhập khẩu về VN trong các tháng đầu năm nay tăng mạnh không có nhiều bất ngờ.

Lý do thời gian qua giá các loại nguyên liệu như bắp, đậu nành đều giảm do được mùa và Trung Quốc tăng thuế nhập khẩu các mặt hàng trên vào nước này. Do giá thấp, các doanh nghiệp tranh thủ nhập hàng giá rẻ để trữ trong kho.

“Đằng nào người dân vẫn phải chăn nuôi nên các doanh nghiệp mạnh dạn trữ hàng. Với sản lượng trong nước ngày càng thiếu hụt so với nhu cầu, việc tăng nhập khẩu là đương nhiên” - ông Lê Bá Lịch cho biết.

Trong khi đó, ông Phạm Đức Bình cho hay bên cạnh mua do bắp và đậu nành ở mức giá thấp còn do các doanh nghiệp VN đang đẩy mạnh nhập khẩu bột thịt về trữ trong kho.

“Đang có thông tin châu Âu sẽ cho sử dụng lại bột thịt trong chăn nuôi nên các doanh nghiệp tranh thủ mua sớm trước khi giá tăng lên trong thời gian tới” - ông Bình cho hay.

Nhưng do nhập về nhiều nên lượng hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong các cảng, kho bãi của các doanh nghiệp chế biến và kinh doanh thức ăn chăn nuôi đang có dấu hiệu dư thừa.

Tập trung vào sản phẩm có lợi thế

Theo Hiệp hội Chăn nuôi Đông Nam Bộ, trong ba tháng đầu năm nay người chăn nuôi heo, gà đều trong tình trạng lỗ nhiều hơn lãi. Tuy nhiên, do đã đầu tư hệ thống chuồng trại nên các chủ trại cũng không dễ dàng giảm ngay tổng đàn, nhất là với heo. Vì vậy, lượng thức ăn tiêu thụ trong nước vẫn giữ ở mức cao.

Trước băn khoăn cho rằng VN là nước nông nghiệp mà phải nhập lượng lớn nguyên liệu như bắp, đậu nành, ông Lê Bá Lịch cho rằng nếu cứ nghĩ như trên là không hiểu kỹ về nông nghiệp VN. Thực tế đất để canh tác nông nghiệp VN là không nhiều.

Hơn nữa, VN là nước nông nghiệp nhưng ở trình độ sản xuất nhỏ lẻ, lạc hậu. Trong khi đó các quốc gia khác đã công nghiệp hóa nông nghiệp nên họ cho ra sản lượng lớn, giá thành thấp, VN khó cạnh tranh.

“Vì vậy, thay vì nghĩ sản xuất nhiều bắp với đậu nành để phục vụ ngành chăn nuôi, ngành nông nghiệp VN nên tập trung sản xuất những sản phẩm có lợi thế đáp ứng nhu cầu trong nước, xuất khẩu rồi nhập khẩu thức ăn chăn nuôi” - ông Lịch nói.


Nhập thức ăn và xuất khẩu thịt

Theo ông Lê Bá Lịch, giá thức ăn chăn nuôi hiện tương đồng trên quy mô toàn cầu, vì vậy giá thành nuôi trong nước hoàn toàn có thể cạnh tranh được với các quốc gia khác. VN hoàn toàn có thể xuất khẩu được thịt heo, thịt gà sang các nước trong khu vực như Trung Quốc, Hong Kong, Nhật Bản, Singapore, Brunei...

Vấn đề hiện nay là cơ quan thú y phải nhanh chóng vào cuộc để mở cửa thị trường, đảm bảo ngành chăn nuôi trong nước an toàn dịch bệnh, đảm bảo yêu cầu xuất khẩu.

Mỗi năm nhập trên 3 tỉ USD thức ăn chăn nuôi...

Theo Bộ NN&PTNT, năm 2016 VN nhập khẩu 3,39 tỉ USD thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu. Năm 2016, VN đã nhập khẩu 8,3 triệu tấn bắp (1,65 tỉ USD), 1,56 triệu tấn đậu nành (ép dầu, bã dùng cho chăn nuôi).

Ba tháng đầu năm 2017, giá trị nhập khẩu nhóm mặt hàng thức ăn gia súc và nguyên liệu đã lên mức 955 triệu USD (khoảng 22.000 tỉ đồng).

Thị trường nhập khẩu chính của nhóm mặt hàng kể trên là Argentina, Hoa Kỳ, Ấn Độ và Trung Quốc. Thị trường có tăng trưởng mạnh nhất so với cùng kỳ năm 2016 là Ý (tăng hơn 5 lần), tiếp đến là thị trường Hoa Kỳ (tăng gần 3 lần).

Tập đoàn Philippines chi triệu đô thâu tóm công ty thức ăn chăn nuôi Việt.


Việc thâu tóm Eurofood nhằm giúp Aboitiz Equity Ventures Inc. mở rộng hoạt độngt trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.

Thông qua một công ty con, Tập đoàn Aboitiz Equity Ventures Inc. (AEV) của Philippines vừa mua 70% cổ phần của Công ty TNHH Dinh dưỡng Âu Châu (Eurofeed) nhằm mở rộng hoạt động trong lĩnh vực thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.
Trong một thông cáo gửi Sở Giao dịch Chứng khoán Philippines, AEV cho biết công ty con của mình là Pilmico International Pte đã mua 2,8 triệu cổ phiếu, tương đương 70% vốn điều lệ của Eurofood.
Hai bên chưa chốt giá trị tương vụ, nhưng AEV dự kiến chi khoảng 3,7 triệu USD để mua lượng cổ phần nói trên. Eurofeed được định giá 5,3 triệu USD, không bao gồm các khoản nợ của công ty. Mức giá cuối cùng còn phụ thuộc vào báo cáo kiểm toán của Eurofeed.
Pilmico International Pte năm ngoái mua lại toàn bộ cổ phần của Công ty TNHH Thương mại Pilmico Việt Nam, hoạt động trong các ngành nghề như thực phẩm, đồ uống, nguyên vật liệu nông nghiệp và lâm nghiệp.
IFC, một công ty thành viên của Ngân hàng Thế giới, tháng 6/2016 đã đầu tư 340 tỉ đồng (tương đương 15 triệu USD) dưới hình thức trái phiếu chuyển đổi kỳ hạn 5 năm vào CTCP Thức ăn Chăn nuôi Anova (Anova Feed) để mở rộng hoạt động sản xuất thức ăn chăn nuôi.


Thông tư số 61/2011/TT-BNNPTNT của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn : Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thức ăn chăn nuôi


BỘ NÔNG NGHIỆP

VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
______________
Số: 61/2011/TT-BNNPTNT
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
___________________________
Hà Nội, ngày 12 tháng 9 năm 2011

THÔNG TƯ

Ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thức ăn chăn nuôi

––––––––––––––––––––

Căn cứ Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật ngày 29 tháng 6 năm 2006;
Căn cứ Pháp lệnh Giống vật nuôi ngày 24 tháng 3 năm 2004;
Căn cứ Nghị định số 08/2010/NĐ-CP ngày 5 tháng 2 năm 2010 của Chính phủ về việc quản lý thức ăn chăn nuôi;
Căn cứ Nghị định số 01/2008/CP ngày 03 tháng 01 năm 2008  của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Nghị định 75/2009/NĐ-CP ngày 10 tháng 9 năm 2009 của Chính phủ về việc sửa đổi điều 3 Nghị định số 01/2008/CP ngày 03 tháng 01 năm 2008;
Theo đề nghị của Vụ trưởng Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường và Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quyết định như sau:
Điều 1. Ban hành kèm theo Thông tư này 02 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia lĩnh vực Thức ăn chăn nuôi:
1. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Cơ sở sản xuất thức ăn chăn nuôi thương mại - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
Ký hiệu:   QCVN 01 - 77: 2011/BNNPTNT
2. Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia: Thức ăn chăn nuôi - Các chỉ tiêu vệ sinh an toàn và mức giới hạn tối đa cho phép trong thức ăn chăn nuôi.
Ký hiệu:   QCVN 01 - 78: 2011/BNNPTNT 
Điều 2. Thông tư này có hiệu lực sau 6 tháng, kể từ ngày ký ban hành.
Điều 3. Cục trưởng Cục Chăn nuôi, Thủ trưởng các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện.
Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các cơ quan, tổ chức và cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.

Nơi nhận:
- Văn phòng Chính phủ (để b/c);
- Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
- UBND các Tỉnh, TP trực thuộc TƯ;
- Chi cục Thú y các Tỉnh, TP trực thuộc TƯ;
- Các Cục, Vụ, Viện, Trường Đại học thuộc Bộ Nông nghiệp và PTNT;
- Công báo, Website Chính phủ; Website Bộ NN&PTNT;
- Cục Kiểm tra văn bản, Bộ Tư pháp;
- Lưu: VT, KHCN.

Công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm bổ sung đa enzyme bằng công nghệ vi sinh

Năm 2015, các nhà nghiên cứu tại Công ty Cổ phần Phát triển Công nghệ Nông thôn do TS. Trần Quốc Việt phụ trách đã thành công nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi cho gia súc, gia cầm bổ sung đa enzyme bằng công nghệ vi sinh.


Ngành chăn nuôi ở Việt nam hiện đang phải đối mặt với nhiều thách thức, trong đó giá thức ăn liên tục tăng cao là một trong những trở ngại lớn nhất. Theo báo cáo của Viện Nghiên cứu chính sách lương thực quốc tế, giá thức ăn chăn nuôi ở Việt Nam cao gấp 2 lần so với chuẩn giá quốc tế và liên tục tăng kể từ năm 2007 đến nay. Nguyên nhân làm cho giá các loại nguyên liệu thức ăn không nhừng leo thang là tình trạng căng thẳng về nguồn cung. Tình trạng này ngày càng trở nên trầm trọng khi ngũ cốc và những nguồn nguyên liệu giầu tinh bột khác đang được sử dụng ngày càng nhiều để sản xuất nhiên liệu sinh học. Việc tăng giá thức ăn tạo nên áp lực lớn đối với ngành chăn nuôi, đặc biệt đối với ngành chăn nuôi lợn và gia cầm, vốn luôn bị cạnh tranh gay gắt không chỉ với con người về nguồn ngũ cốc mà còn với ngành sản xuất cồn sinh học. Biện pháp tối ưu để giải quyết vấn đề này là sử dụng các enzyme bổ sung vào thức ăn để làm tăng tỷ lệ tiêu hóa và nâng cao hiệu quả sử dụng thức ăn của vật nuôi. Và đề tài này được thực hiện nhằm hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc, giá cầm có bổ sung enzyme bằng công nghệ vi sinh quy mô công nghiệp đạt năng suất và chất lượng sản phẩm cao. 

Đề tài đã thu được những kết quả sau: 
- Đã tuyển chọn được 4 chủng vi khuẩn Bacillus có khả năng sản sinh enzyme cao hơn các chủng của đề tài xuất xứ, gồm 3 chủng vi khuẩn Bacillus subtilis (S23; V158; V159) và 01 chủng vi khuẩn Bacillus.amyloliquefaciens. Bốn chủng này đã được đưa vào danh mục các vi khuẩn hữu ích và được lưu trữ tại bảo tàng giống vi sinh vật của Viện Vi sinh vật và Công nghệ sinh học thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội với các mã VTCC tương ứng (B2: VTCC B 1877; V158: VTCC B-1879; V159: VTCC B-1880 vaf S23: VTCC B-1878).
- Hoàn thiện được công nghệ và xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất các enzyme α-amylase, protease, cellulose, β-glucanase và xylanase từ các chủng vi khuẩn trên.
- Đã sản xuất được 5000 lít chế phẩm đa enzyme dạng lỏng đạt các chỉ tiêu chất lượng đặt ra về hoạt tính các enzyme (U/ml): α-amylase: 2238; protease: 226; cellulose: 640; β-glucanase: 298 và xylanase: 1158. 
- Xác định được liều bổ sung thích hợp đối với chế phẩm đa enzyme lỏng khi bổ sung vào thức ăn cho lợn và gà là từ 3500 ml đến 5000 ml/tấn. 
- Bổ sung chế phẩm đa enzyme lỏng vào thức ăn đã làm tăng tốc độ sinh trưởng của gà từ 9,9% đến 10,6 và giảm tiêu tốn thức ăn từ 6,3% đến 10,4% so với đối chứng. 
- Khi bổ sung chế phẩm đa enzyme lỏng vào thức ăn đã làm tăng tốc độ sinh trưởng của lợn từ 7,9% đến 10,2% và giảm tiêu tốn thức ăn từ 9,4% đến 10,0% so với đối chứng. 
- Đã thiết kế và lắp đặt thành công dây chuyền sản xuất thức ăn bổ sung giàu enzyme cho lợn và gà công suất trên 1 tấn/ngày. 
- Xây dựng được quy trình công nghệ sản xuất thức ăn bổ sung giầu enzyme cho lợn và gà quy mô 1 tấn/ngày. 
- Sản xuất được 40 tấn thức ăn bổ sung giàu enzyme cho lợn, khi sử dụng để nuôi lợn đã làm tăng tốc độ sinh trưởng từ 7,9% đến 9,5% và giảm tiêu tốn thức ăn từ 6,7% đến 9,87% so với đối chứng. 
- Sản xuất được 30 tấn thức ăn bổ sung giầu enzyme cho gà, khi sử dụng để nuôi gà thịt đã làm tăng tốc độ sinh trưởng từ 9,2% đến 9,4% và giảm tiêu tốn thức ăn từ 6,67% đến 7,25% so với đối chứng. 
- Xây dựng được tiêu chuẩn cơ sở và đăng ký danh mục cho bốn sản phẩm của Dự án, bao gồm: (1) chế phẩm đa enzyme lỏng (RTD- LIQUOR™); (2) chế phẩm đa enzyme bột (RTD-ENZYME POWDER™); (3) thức ăn bổ sung giầu enzyme cho lợn (RTD-Feed Enzyme™Swine); (4) thức ăn bổ sung giầu enzyme cho gà (RTD-Feed Enzyme™Avian).

Trong bối cảnh thị trường enzyme thức ăn đang diễn biến phức tạp và phụ thuộc chủ yếu vào các nhà sản xuất nước ngoài với giá rất cạnh tranh thì kết quả của Dự án này đã mang lại một ý nghĩa rất quan trọng và thực tiễn. Nhóm nghiên cứu sẽ tiến hành thêm những nghiên cứu sâu hơn để dự án này hoàn thiện được toàn diện công nghệ sản xuất chế phẩm đa enzyme dùng trong chăn nuôi và phát triển thị trường.