Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Tư, 10 tháng 1, 2018

Giá heo dịp Tết nguyên đán khó tăng mạnh

Chưa có năm nào như năm nay, giá heo hơi "chìm sâu" dưới giá thành sản xuất suốt cả năm khiến người chăn nuôi thua lỗ kéo dài. Tuy nhiên, giá heo vào dịp Tết cổ truyền- 2018 theo dự đoán cũng rất khó tăng mạnh.


Dịp Tết Nguyên đán sắp tới được người chăn nuôi cho là cơ hội "vớt vát" chút đỉnh, bởi đây là thời điểm thị trường tiêu thụ mạnh các sản phẩm từ thịt heo. Tuy nhiên theo dự đoán của các nhà chăn nuôi và cơ quan chuyên môn thì giá heo rất khó tăng mạnh.
Cơ hội 'vớt vát'

Tổng kết vụ heo năm nay, ông Trần Văn Sáng, xã Lộ 25, huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai cho biết, chưa có năm nào người nuôi heo lại khó khăn cực kỳ như năm nay.

Hiện nay, giá heo hơi vẫn đứng mức 27-28 ngàn đồng/kg. Tuy nhiên, giá thức ăn lại không thấy giảm. Với tình trạng này, rất khó cho người chăn nuôi khi còn hai, ba tháng nữa là Tết. Gia đình ông Sáng nuôi gần 400 con heo cả nái lẫn thịt, trung bình mỗi ngày tiêu thụ trên dưới 20 bao thức ăn, giá 280 ngàn đồng/bao vị chi mất gần 6 triệu đồng. Với giá cả bán ra như thế, theo ông Sáng, người chăn nuôi lúc này phải cố gắng "ép" lại giá thành sản xuất, tức bằng mọi cách tiết giảm tối đa chi phí nguyên liệu và nhân công để có chút lãi”.

"Hiện tại, tôi đang thả thêm 100 con heo thịt để kịp bán vào đúng dịp Tết Nguyên đán 2018, cũng ráng hy vọng vì dịp tết thường mọi người dùng nhiều thịt heo nên thế nào giá heo phải tăng lên chút ít. Chỉ cần mức giá trên 30 ngàn đồng/kg là người nuôi như tôi đã có chút lãi, vừa trang trải nợ nần vừa có chút vốn đầu tư cho vụ nuôi năm sau”, ông Sáng chia sẻ.

Ông Nguyễn Lợi, chủ một trại heo ở xã Gia Kiệm, huyện Thống Nhất cho biết thêm, nhiều năm qua người nuôi heo không còn chăn nuôi kiểu dồn lực cho dip tết như trước. Thay vào đó, các lứa heo được rải đều và xuất bán liên tục trong năm. Tuy nhiên, thời điểm tết vẫn là lúc mà người chăn nuôi chú trọng bởi đây là lúc thị trường tiêu thụ mạnh sản phẩm thịt heo.

Thế nên, trong tình cảnh chăn nuôi heo tụt dốc suốt năm nay, dịp tết sắp tới được nhiều người nuôi xem là “cứu sinh” để có thể tiếp tục bám trụ với nghề. “Lúc này, không ai nuôi kiểu đầu tư "tất tần tật" vào vụ tết, tuy nhiên, nhà nào cũng chuẩn bị một lượng heo tương đối để bán tết. Gần như ai cũng hy vọng giá heo hơi lên được chút ít để còn gỡ lại chút vốn mà còn nuôi tiếp”, ông Lợi tự tin nói.
Giá heo tăng nhẹ?

Không chỉ ông Sáng, ông Lợi, mà còn nhiều chủ trại heo khác trên địa bàn tỉnh Đồng Nai cũng đang cố gắng cầm cự và tìm cách giữ đàn để chờ giá, thay cho giải pháp tạm ngưng chăn nuôi như trước. Và dịp Tết Nguyên đán sắp tới là thời điểm mà người chăn nuôi đặt nhiều kỳ vọng giá heo sẽ tăng trở lại.

Trước hết, theo ông Trần Văn Quang, Chi cục trưởng Chi cục Chăn nuôi-Thú y tỉnh Đồng Nai, căn cứ năng lực cung cầu hiện nay thì dịp Tết Nguyên đán 2018, nguồn cung thịt heo cho thị trường vẫn sẽ được đảm bảo và chắc chắn sẽ không xảy ra tình trạng thiếu thịt heo.

"Mặc dù, giá bán nằm dưới giá thành, tuy nhiên, nó chỉ gây ảnh hưởng đến người chăn nuôi nhỏ lẻ. Trong khi đó, các trang trại lớn, các doanh nghiệp và tập đoàn chăn nuôi do có chuỗi liên kết tốt nên ít bị ảnh hưởng hơn. Do đó, tổng đàn heo trên địa bàn vẫn ổn định ở mức trên 1,7 triệu con, tương đương cùng kỳ năm 2016", ông Quang chia sẻ.
Kết quả hình ảnh cho lợn hơi
Giá heo dịp Tết nguyên đán khó tăng mạnh
Theo Chi cục Chăn nuôi - Thú y, mỗi ngày trên địa bàn tỉnh Đồng Nai xuất bán gần 9.000 con heo, theo tính toán, lượng heo xuất bán trong những ngày giáp tết có thể sẽ tăng lên, nhưng tổng đàn hiện tại vẫn sẽ đảm bảo được nguồn cung thịt heo cho người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh và thị trường TP.HCM.


Còn theo ông Nguyễn Trí Công (Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi Đồng Nai), với tổng đàn heo đang có thì nguồn cung thịt cho thị trường tết sẽ được đảm bảo. Người nuôi vẫn đang duy trì đàn, dù không mở rộng nhưng cũng không giảm. Do đó, nguồn cung vẫn khá dồi dào. Vì vậy, tình trạng thiếu thịt heo dịp tết sẽ không xảy ra nhưng giá heo hơi cũng sẽ khó tăng đột biến mà chỉ có thể tăng nhẹ.

Theo ông Công, nguyên nhân khiến giá heo khó có thể tăng cao là do cán cân cung cầu hiện vẫn đang rất chênh lệch. Trong đó, nguồn cung hiện vẫn rơi vào cảnh dư thừa so với cầu, bất chấp việc nhu cầu tiêu thụ thịt heo có thể tăng cao vào dịp tết.

Thứ Sáu, 5 tháng 1, 2018

Vì sao đồng và kẽm là yếu tố thuận lợi cho sự đề kháng kháng sinh?

Giới thiệu

Kháng sinh được bổ sung trong khẩu phần thức ăn chăn nuôi từ vài thập kỷ qua. Thuốc được bổ sung không chỉ để điều trị bệnh và phòng các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, mà còn vì mục đích nâng cao năng suất chăn nuôi: hiệu quả kích thích tăng trưởng của kháng sinh đã được biết đến từ những năm 1950. Trên thế giới, kháng sinh đã được sử dụng với số lượng lớn. Ví dụ, trong năm 1994, ngành chăn nuôi Đan Mạch đã tiêu thụ đến 200 tấn kháng sinh, hơn một nửa trong 200 tấn này được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi như yếu tố kích thích tăng trưởng. Trong những năm gần đây, sự xuất hiện của vi khuẩn kháng thuốc đã trở thành mối quan tâm lớn, buộc Liên minh Châu Âu ban hành lệnh cấm sử dụng kháng sinh không vì mục đích điều trị bệnh trong chăn nuôi. Những chất khác được biết đến với đặc tính kháng khuẩn và có tác dụng kích thích tăng trưởng được quan tâm nhiều hơn. Kẽm (đặc biệt là oxit kẽm) và đồng thường được bổ sung quá mức trong khẩu phần thức ăn cho heo để cải thiện sức khỏe đường ruột. Nhưng vai trò của những chất này trong cuộc chiến chống lại tình trạng đề kháng kháng sinh hoàn toàn không khả quan. Hiện nay các nước trên thế giới đang thực hiện nhiều giải pháp thay thế kháng sinh trong chăn nuôi để làm giảm thiều đến mức cho phép đề kháng kháng sinh. 

Thực trạng hiện nay

Kẽm là một nguyên tố vi lượng thiết yếu cần cho sự sống của sinh vật. Từ lâu, tác động tích cực của kẽm trên hiệu suất tăng trưởng đã được công nhận trong chăn nuôi heo: thiếu hụt kẽm làm giảm ăn, sinh trưởng kém, suy yếu hệ thống miễn dịch, và trong trường hợp nặng thì heo bị tổn thương da (viêm da á sừng). Theo Hiệp Hội Nghiên cứu Quốc gia, nhu cầu kẽm ở heo từ 50 đến 100 ppm tùy theo độ tuổi và trọng lượng của con vật. Khi hàm lượng kẽm trong nguyên liệu thức ăn thấp, người ta thường bổ sung thêm kẽm vào trong khẩu phần. Ở các nước châu Âu, hàm lượng kẽm bổ sung tối đa trong thức ăn của động vật dạ dày đơn là 150 ppm, tuy nhiên có vài nước cho phép bổ sung kẽm ở liều lượng dược lý (3000 ppm) trong premix điều trị ở giai đoạn heo con sau cai sữa.
Tương tự như kẽm, đồng cũng là một yếu tố vi lượng thiết yếu. Nó đóng vai trò là đồng yếu tố trong cấu trúc của nhiều enzyme và là một chất kích thích tăng trưởng nổi tiếng. Thiếu hụt đồng có thể dẫn đến những vấn đề về thể chất như: sinh trưởng kém, thiếu máu, dị tật ở chân... Nhu cầu đồng ở heo khá thấp (khoảng 4-10 mg/ kg vật chất khô khẩu phần), nhưng đồng thường được bổ sung quá mức. Ở Châu Âu, hàm lượng đồng tối đa trong thức ăn là 170 ppm đối với heo con và 25 ppm với heo lớn hơn.
Những nguyên tố vi lượng trên khi được sử dụng ở hàm lượng cao thể hiện đặc tính kháng khuẩn. Vi khuẩn đã phát triển 4 cơ chế chính để đề kháng lại với kháng sinh - hậu quả của việc sử dụng kháng sinh tràn lan trong sản xuất chăn nuôi như:
- Giảm tính thấm của màng tế bào (giảm protein biểu hiện xuyên màng)
- Làm bất hoạt thuốc (sản sinh enzyme)
- Biến đổi các vị trí gắn kết trên tế bào (thay đổi vị trí gắn của kháng sinh)
- Bơm đẩy những yếu tố độc ra ngoài (thông qua các bơm protein)
Ở Đan Mạch, avoparcin - một kháng sinh thuộc nhóm glycopeptide được sử dụng như chất kích thích tăng trưởng đến năm 1995, ở thời điểm đó, có đến 21% mẫu Enterococcus faecium (E. faecium) phân lập được từ thịt heo kháng lại với avoparcin. Nhận thức rõ mối nguy cơ này, Đan Mạch đã cấm sử dụng kháng sinh không vì mục đích điều trị bệnh trong chăn nuôi ở heo lớn (năm 1998) và đối với heo con (năm 1999). Trong năm 2006, Liên minh Châu Âu đã rút dần việc sử dụng kháng sinh như chất kích thích tăng trưởng trong sản xuất. Đồng và kẽm có thể điều biến hệ vi sinh đường ruột và giúp giảm tiêu chảy heo con giai đoạn sau cai sữa, nhờ đó có thể thay thế một phần kháng sinh. Tuy nhiên, lượng đồng và kẽm dư thừa tác động tiêu cực đến môi trường, và làm phát sinh những dòng vi khuẩn chọn lọc đề kháng lại với đồng và kẽm. Ngoài ra, chúng ta có thể nhận thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa đề kháng kim loại và đề kháng thuốc kháng sinh.

Đề kháng chéo
Sự đa kháng có thể thể lý giải được bằng cơ chế đề kháng chéo. Trong trường hợp này, 1 yếu tố di truyền đơn lẻ quy định cho khả năng đề kháng với một vài nguyên tố (kim loại và thuốc kháng sinh). Ví dụ, vi khuẩn có thể tổng hợp protein vận chuyển mang cả thuốc kháng sinh và kim loại. Ở những vi sinh vật kháng kẽm, các protein bơm đẩy kẽm từ bên trong tế bào ra ngoài; các bơm này có thể chỉ đẩy mỗi kẽm hoặc chấp nhận đẩy thêm các phân tử khác. Do đó, vi khuẩn kháng kẽm cũng có thể kháng được một hoặc nhiều loại kháng sinh.

Đồng đối kháng

Sự đa kháng cũng có thể kết hợp với đồng đối kháng. Ở trường hợp này, các gen đề kháng khác nhau thay đổi vị trí trong cùng nhân tố di truyền giống nhau, trong nhân tố di truyền di động nói chung như plasmid. Có một vài tổ hợp thuốc kháng sinh kết hợp với kim loại được nghiên cứu như: đề kháng kẽm liên kết với đề kháng methicillin ở Staphylococcus aureus (S. aureus) hoặc đề kháng đồng liên quan đến đề kháng macrolide và glycopeptide ở E. faecium.

Kẽm

CzrC là tên của 1 gen quy định đề kháng cadmium và kẽm trong S. aureus. Một nghiên cứu dựa trên những mẫu phân lập trên heo ở nhiều nước khác nhau đã chứng minh rằng 95% gen czrC tìm thấy trong các chủng phân lập đề kháng với kẽm. Ngược lại, dưới 1% các chủng phân lập liên quan với crzC nhạy cảm với kẽm. Kết quả thí nghiệm cho thấy sự tương quan mạnh mẽ giữa đề kháng kẽm và đề kháng methicillin: trong số các chủng nhạy cảm với methicillin, tất cả đều nhạy cảm với kẽm clorua - và trong các chủng kháng methicillin, hơn 90% đề kháng được kẽm clorua.
Trong một nghiên cứu khác, trên các chủng phân lập ở heo Đan Mạch, không có chủng nào nhạy cảm với methicillin và 74% chủng kháng methicillin cũng đề kháng với kẽm. Bình quân, nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) của kẽm ở những vi khuẩn đề kháng cao gấp 4 lần so với MIC bình thường, MIC: 8 mM của methicillin kháng S. aureus (MRSA) so với nồng độ MIC: 2 mM ở những chủng S. aureus nhạy cảm với methicillin (MSSA). Nói tóm lại, sự chọn lọc những chủng vi khuẩn kháng kẽm cũng đồng nghĩa chọn lọc những dòng vi khuẩn kháng kháng sinh (Hình 1).

​Ở châu Âu, Canada và Mỹ (Trung Tây), sự xuất hiện của MRSA với bộ gen di truyền tương tự (dòng vô tính phức hợp 398) được tạo ra dễ dàng bằng cách sử dụng tetracycline và oxit kẽm. Gần đây, các chủng này cũng được tìm thấy ở Úc và ở New Zealand. Các thí nghiệm với các mẫu vi khuẩn MRSA phân lập từ mũi heo được tiến hành và cho kết quả đếm khuẩn MRSA cao hơn ở những heo được điều trị với kẽm hoặc với tetracycline. Vi khuẩn đề kháng thuốc lan truyền rất nhanh: sau ba tuần, tất cả heo âm tính với MRSA được nuôi nhốt chung với những heo dương tính MRSA đều cho kết quả dương tính. Một hiện tượng tương tự cũng được quan sát thấy khi thử nghiệm với đồng.
Đồng
Đồng là yếu tố áp lực có lợi cho chọn lọc vi khuẩn kháng macrolides và glycopeptide. Sự chuyển gen đề kháng đồng thường thấy ở vi khuẩn gram âm, hiếm gặp ở vi khuẩn gram dương. Sự đề kháng này có liên kết với gen tcrB (gen kháng đồng biến nạp tương tự với copB). Một nghiên cứu trên các mẫu E. faecium phân lập ở Đan Mạch cho thấy sự hiện diện của gen này có liên quan trực tiếp đến hàm lượng đồng trong khẩu phần thức ăn. Tình trạng kháng đồng phổ biến ở các mẫu phân lập trên heo (45/59 mẫu phân lập), khá phổ biến ở gia cầm (10/29) và hiếm gặp ở các mẫu phân lập từ bê (5/32), cừu (0/22) và trên người (3/29). Những mẫu phân lập trên heo cho kết quả kháng đồng cao có thể lý giải là do hàm lượng đồng bổ sung vào thức ăn nhiều hơn. Ngoài ra, hơn 50% các chủng phân lập trên heo đều kháng macrolides và gần 25% kháng glycopeptide.
Trong nghiên cứu này, tất cả các chủng kháng glycopeptites đều kháng với macrolides và đồng, và tất cả chủng kháng với macrolides đều kháng đồng; chỉ có 4 chủng vi khuẩn phân lập kháng đồng (dưới 10% của nhóm thí nghiệm) nhạy cảm với kháng sinh. Gen tcrB, quy định sự kháng đồng, và erm(B), quy định đề kháng macrolides, dường như cùng nằm trong plasmid phân lập trên heo; gen kháng glycopeptide cũng có thể liên kết về mặt vật lý với gen tcrB.
Vì phân heo có thể được sử dụng làm phân bón nên sự kháng kháng sinh có thể lan truyền trong đất. Một nghiên cứu chỉ ra sự tương quan giữa các vi sinh vật kháng kháng sinh và kháng đồng trong đất: ví dụ, sự xuất hiện của vi khuẩn kháng ampicillin cao hơn đáng kể ở những vi khuẩn kháng đồng, so với vi khuẩn nhạy cảm với đồng. Ngoài ra, tần số bội kháng trong vi khuẩn kháng đồng cao hơn gấp đôi so với các vi khuẩn nhạy cảm đồng.
Những chủng kháng thuốc có thể lan truyền nhanh chóng trong quần thể động vật, giữa động vật và môi trường sống. Nhiều thế hệ kháng sinh dần trở nên kém hiệu quả hơn khi xuất hiện những chủng vi sinh vật chọn lọc đề kháng với kẽm hoặc đồng. Sự chuyển gen di truyền theo chiều ngang có liên quan đến hiện tượng này.
Sự lan truyền vi khuẩn đề kháng
Vi khuẩn nhạy cảm có thể trở thành vi khuẩn đề kháng khi tiếp xúc với vi khuẩn kháng thuốc. Hiện tượng trao đổi di truyền có thể xảy ra giữa các vi sinh vật. Gen kháng thường nằm trong các yếu tố di truyền di động (plasmid, transposon) tạo điều kiện chuyển vật chất di truyền theo chiều ngang. Vi khuẩn có thể chấp nhận các plasmid hoặc transposon từ các tế bào khác thông qua quá trình ghép đôi (tiếp hợp); chúng cũng có thể kết hợp những vật chất di truyền ngoại sinh vào hệ gen của chính mình (biến nạp). Trong trường hợp cụ thể, ADN có thể được chuyển giao giữa những vi khuẩn đề kháng với nhau thông qua thể thực khuẩn (tải nạp). Tiếp đến, vi khuẩn đã trở nên đề kháng có thể chuyển gen đến các tế bào con trong quá trình phân chia tế bào. Do đó, sử dụng kẽm hoặc đồng dư thừa sẽ tạo ra một thế hệ vi khuẩn mới kháng với cả kim loại và kháng sinh.
Do đó, trong cuộc chiến với sự đề kháng thuốc đòi hỏi cần giảm sử dụng thuốc kháng sinh, và cần có những nguồn bổ sung đồng, kẽm tốt hơn, an toàn hơn trong khẩu phần thức ăn cho heo.
Picture
Hình 1: Sự chọn lọc của những chủng vi khuẩn kháng kháng sinh sau một thời gian sử dụng kẽm liên tục

Vai trò của vitamin và khoáng trong chăn nuôi

Vitamin và khoáng chất là những nhân tố không thể thiếu trong hàm lượng thành phần sản phẩm thức ăn chăn nuôi để đảm bảo sức khỏe và phát triển bình thường của vật nuôi. 

Vitamin

Nhiều vitamin là cấu tử của các men cần thiết cho quá trình chuyển hóa vật chất trong cơ thể. Phần lớn các vitamin phái đưa từ thức ăn vào cơ thể, chúng thuộc nhóm chất cần thiết cho cơ thể tương tự như axit min cần thiết. Người ta chia các vitamin thành 2 nhóm:
- Nhóm vitamin tan trong chất béo: Là vitamin A,D,E,K thường đi kèm với chất béo của thức ăn. Một khẩu phần có hàm lượng lipit thấp thường ít các vitamin này hoặc cơ thể kém sử dụng các vitamin này.
- Nhóm vitamin tan trong nước: Bao gồm vitamin nhóm B, vitamin C, vitamin P, VITAMIN U. CƠ THỂ dễ dàng được thỏa mãn nhu cầu các vitamin này khi dùng thức ăn tươi.
Kết quả hình ảnh cho vitamin
 Vai trò của vitamin và khoáng trong chăn nuôi

Khoáng

Khoáng là một nhóm các chất cần thiết không sinh năng lượng nhưng giữ vai trò trong nhiều chức phận quan trọng đối với cơ thể. Cơ thể người ta có gần 60 nguyên tố hóa học. Một số chất có hàm lượng lớn trong cơ thể được xếp vào nhóm các yếu tố đa lượng (macroelements), số khác có hàm lượng nhỏ được xếp vào nhóm các vi yếu tố (microelements).
​Các yếu tố đa lượng là Ca (1,5%), P (L%), MG (0,05%), K (0,35%), NA (0,15%) ; Các yếu tố vi lượng là I, F, Cu, Co, Mn, Zn... còn gọi là yếu tố vết. Lượng tro của một người trưởng thành khoảng 2 kg tương đương 4% trọng lượng cơ thể. Khoảng một nửa đường chất khoáng đó là yếu tố tạo hình của các tổ chức xương và tổ chức mềm, phần còn lại nằm trong các dịch thể.
Hàm lượng các chất khoáng trong các mô không giống nhau. Xương chứa nhiều chất khoáng nhất còn da và mô mỡ chỉ chiếm dưới 0,7%. Một số chất khoáng nằm trong các liên kết hữu cơ như iot trong tyroxin, sắt trong hemoglobin, còn PHẦN LỚN CÁC KHOÁNG CHẤT ÐỀU Ở dạng muối. Nhiều loại muối này hòa tan trong nước như natri clond, canxi clond, nhiều loại khác rất ít tan. Quan trọng nhất là các canxi photphat, ma giê photphat của xương.

Một Số Sản Phẩm Vitamin Và Khoáng Chất Lượng Cao
- Alkosel® 3000: là sản phẩm Se hữu cơ trong tế bào nấm men Saccharomyces cerevisiae.
- AZOMITE: có chứa hơn 70 nguyên tố khoáng bao gồm cả khoáng vi lượng và đa lượng

Thứ Tư, 3 tháng 1, 2018

Tổng quan về Enzyme


Hiện nay người ta bổ sung thêm vào thức ăn chăn nuôi các enzyme công nghiệp để giúp thú tiêu hóa tốt thức ăn, tăng trọng nhanh, hạn chế các tác động bất lợi có trong nguyên liệu thức ăn. Vai trò của enzyme trong chăn nuôi rất tích cực ; đặc biệt là đối với chất xơ, phytate có trong cám gạo và ảnh hưởng tích cực đối với môi trường.

1. Đối với chất phytate


Các enzyme phân hủy NSP (như endo-xylanase và bglucanase-glucanase) và phân hủy phytate (như phytase) chứa nhiều trong cám gạo, lúa mì, lúa mạch đen... được ứng dụng rộng rãi trong những khẩu phần ăn không chỉ do vấn đề môi trường, mà vì nó còn có ý nghĩa về mặt kinh tế. 












Tổng quan về Enzyme 



Trong tự nhiên, khoảng 60 - 75% phốt pho có trong hạt ngũ cốc được liên kết hữu cơ dưới dạng phytate, đây là dạng rất khó hấp thu đối với heo. Giá trị sinh học của phốt pho ở hạt ngũ cốc rất biến động từ dưới 15% ở bắp cho tới khoảng 50% ở lúa mì. Trong khẩu phần bắp - khô dầu đậu nành có hai phần ba lượng phốt pho bị liên kết dưới dạng axít phytic. Heo không thể tiêu hóa lượng phốt pho này. Lượng phốt pho bị thải này sẽ giảm đáng kể nếu bổ sung phytase vi sinh vào khẩu phần, men này sẽ giải phóng một số mạch liên kết phốt pho làm cho heo tiêu hóa dễ dàng. Do đó lượng phốt pho vô cơ phải bổ sung thêm để đáp ứng nhu cầu sẽ giảm, lượng phốt pho thải ra có thể giảm 30 - 50%. Hiệu quả của việc bổ sung phytase thay đổi theo từng loại heo, trọng lượng, khẩu phần, mức ăn, tần suất cho ăn, nguồn phytase, lượng phytase bổ sung và tình trạng sinh lý của heo. Không có mức chuẩn cho việc bổ sung phytase cho tất cả các loại khẩu phần bởi vì mức phốt pho tổng số và phốt pho phytate của các loại khẩu phần thay đổi. Enzyme phytase không chỉ làm gia tăng khả năng tiêu hóa phốt pho mà còn làm tăng khả năng tiêu hóa những chất khoáng và các axít amin khác.

2. Đối với chất xơ

Việc sử dụng các enzyme có tác dụng trên chất xơ (NSP) lên thức ăn chăn nuôi, giúp vật nuôi tiêu hóa tốt hơn thức ăn; vừa hạn chế các tác hại của bản thân những NSP gây ra, vừa giải phóng được một phần năng lượng, protein và các axít amin thặng dư. Enzyme tạo điều kiện phóng thích các axít amin, cải thiện khả năng tiêu hóa từng loại axít amin từ 1,7 - 7,9 đơn vị phần trăm (mức cải thiện cao nhất của methionine là 7,9%), giúp tiết kiệm được các axít amin khi bổ sung vào khẩu phần ăn của gia súc, giảm giá thành sản xuất. Sử dụng enzyme giúp cải thiện thành tích của vật nuôi.
Các cải thiện này có được là do sự phối hợp của nhiều yếu tố khác nhau: Sự cải thiện môi trường ruột. Sự cải thiện khả năng tiêu hoá và đặc tính chất độn chuồng. Sử dụng các thực liệu kinh tế hơn. Các yếu tố khác nhau này là do các biểu hiện khác nhau về hoạt động căn bản của enzyme trong thức ăn.
Các hoạt động bao gồm sự giảm độ nhờn trong dưỡng chất ở ruột, giải phóng năng lượng thặng dư từ các thành phần thức ăn khó tiêu hóa như các NSP, giải phóng các dưỡng chất kết dính bên trong vách tế bào... làm tăng giá trị hữu dụng của dưỡng chất. Các yếu tố kháng dinh dưỡng cũng có thể được phân giải.
Nhiều kết quả thí nghiệm cho thấyenzyme có thể được xem như là một chất bổ sung, là một nguồn năng lượng. Đối với hệ vi sinh vật đường ruột, men tiêu hóa có tác dụng làm gia tăng khả năng tiêu hóa thức ăn ở ruột non, do vậy làm giảm quá trình lên men vi sinh ở ruột già, duy trì quá trình thẩm thấu khi heo con tiêu chảy. 
Ngoài ra men tiêu hóa bổ sung còn cho thấy có tác dụng làm giảm độ chênh lệch trọng lượng giữa các vật nuôi trong đàn. Men tiêu hóa cho phép thay thế ngũ cốc chín bằng ngũ cốc sống mà không làm ảnh hưởng đến năng suất vật nuôi. ảnh hưởng của enzyme đã làm tăng khả năng tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng ở bề mặt ruột nhờ vào sự giảm chất nhầy và khả năng giữ nước trong đường tiêu hóa. Điều này có ảnh hưởng tích cực đến lượng ăn vào cũng như sự tăng nhanh lượng vi khuẩn đường ruột.

3. Đối với môi trường


Trong những năm gần đây, các nhà khoa học đã và đang nổ lực tìm cách làm giảm ô nhiễm từ các chất thải ra trong chăn nuôi. Trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định được rằng cần cải thiện khả năng sử dụng các dưỡng chất trong khẩu phần của vật nuôi để hạn chế tối đa lượng phân thải ra. 
Trước đây, do ít quan tâm đến lượng chất dinh dưỡng bị thải ra ngoài nên hậu quả của việc cho ăn quá nhiều chất dinh dưỡng nhằm tối đa hóa năng suất đã dẫn đến hậu quả là lượng chất dinh dưỡng thải ra quá nhiều qua phân và nước tiểu (chủ yếu là hàm lượng protein, phốt pho và canxi). Qua nhiều nghiên cứu cho thấy việc bổ sung enzyme tỏ ra có hiệu quả trong việc cải thiện các hạn chế trên. 
4. Một số sản phẩm Enzyme hiệu quả 
- AGal-Pro®: Tổ hợp các enzyme NSP và Cellulase, Enzyme đặc biệt dành cho các khẩu phần có khô dầu đậu nành và bắp
- SUPERZYME CS: 8 loại enzyme đậm đặc trong một sản phẩm, bao gồm Phytase, Protease, Invertase, Amylase, Cellulase và các NSP enzymes.
- BERGAZYM® P: có chứa Endo-1,4 Xylanase, đạt hiệu quả phân giải Xylan rất cao. Hơn thế nữa ERGAZYM® P còn có các enzyme khác như Glucanase, Amylase, Protease v.v.. giúp tăng cường tiêu hóa thức ăn và hiệu quả chăn nuôi.

Thứ Hai, 1 tháng 1, 2018

Vai trò của Probiotic và Prebiotic đến sức khỏe thú

Probiotic

Probiotic gồm các cá thể hoặc hỗn hợp của vi khuẩn axit lactic, nấm men vi sinh, hoặc các sản phẩm sinh học cuối của chúng. Probiotic sử dụng trong thức ăn chăn nuôi thường được chia thành các loại sau:
1. Các nấm men và vi khuẩn sống;
2. Các nấm men và vi khuẩn đã qua xử lý nhiệt hoặc bật hoạt tính;
3. Sản phẩm lên men cuối cùng từ nấm men hoặc vi khuẩn. Cơ chế hoạt động của men vi sinh probiotic bao gồm:
a. cạnh tranh giữa các loại nấm men và vi khuẩn của probiotic với các vi sinh vât gây bệnh ở niêm mạc ruột;
b. sự hữu hiệu của chất dinh dưỡng;
c. Khả năng áp chế sự phát triển mầm bệnh qua cơ chế sản xuất axit hữu cơ và các hợp chất có đặc tính giống như kháng sinh. 
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh được tác dụng có lợi đối với sức khỏe và khả năng cải thiện hiệu suất phát triển ở động vật của các chủng vi khuẩn men vi sinh. Đặc biệt, probiotic có những tác dụng tích cực đối với:
a) quá trình tiêu hóa – bằng cách gia tăng hoạt động của enzyme vi sinh và khả năng tiêu hóa hấp thụ thức ăn của động vật;
b) khả năng miễn dịch – thông qua cơ chế kích thích hệ thống miễn dịch của động vật và tăng cường khả năng tái tạo tế bào ở niêm mạc ruột.
Tầm ảnh hưởng của việc sử dụng probiotic trong thức ăn chăn nuôi phụ thuộc đáng kể vào cách thức lựa chọn các chủng vi khuẩn để tạo nên hỗn hợp men vi sinh, liều lượng probiotic trong thức ăn, các tương tác của men vi sinh với các loại dược phẩm khác, thành phần thức ăn, và hơn hết là điều kiện bảo quản cùng công nghệ chế biến thức ăn chăn nuôi.
Kết quả hình ảnh cho thức ăn chăn nuôi
Vật nuôi. 

Prebiotic

Prebiotic là các chuỗi ngắn carbohydrates hòa tan (chất xơ hòa tan – oligosaccharides). Prebiotic, đã được khoa học chứng minh, đem lại rất nhiều lợi ích cho sức khỏe và khả năng phát triển của động vật chăn nuôi, kích thích sự tăng trưởng của một hay nhiều loại vi khuẩn có lợi. Do prebiotic là các chất xơ hòa tan không tiêu hóa được, prebiotic có thể di chuyển tới đại tràng và hoạt động như một nguồn năng lương cho vi khuẩn, không giống như các loại đường sinh học thông thường có thể bị tiêu hóa trực tiếp. Vì vậy, các thành phần và hoạt động vi sinh vật sẽ bị thay đổi, dẫn đến các tác dụng phụ như tăng sản lượng khí và giảm trừ độ pH trong đường ruột. Prebiotic cũng có thể ngăn chặn cơ chế bám dính của các mầm bệnh trên niêm mạc bằng cách cạnh tranh với các thụ đường sinh học của chúng; một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng thức ăn được bổ sung với các loại oligosaccharides khác nhau có thể suy giảm khả năng nhiễm khuẩn Salmonella và E.coli.
Các oligosaccharides không tiêu hóa được phổ biến nhất được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi nhằm cải thiện hệ miễn dịch của động vật bao gồm có: Mannanoligosaccharides (MOS), Galactooligosaccharides, fructooligosaccharides (FOS), Soybeanoligosaccharides, Isomaltooligosaccharides, Xylooligosaccharides, lactulose, Inulin.

Một số sản phẩm Probiotics & Prebiotics chất lượng cao

- CALSPORIN®: tác động tích cực của CALSPORIN® đến năng suất vật nuôi, cải thiện tăng trưởng, hiệu quả sử dụng thức ăn cũng như giảm tỷ lệ tiêu chảy và chết.
- BioPlus ® YC: cải thiện sức khỏe đường tiêu hóa và có khả năng tiết enzyme cao giúp cải thiện khả năng hấp thụ dưỡng chất, cải thiện khả năng tiêu hóa thức ăn.
​ - LEVUCELL SB 10 ME TITAN: là tập hợp men sống đậm đặc dòng Saccharomyces cerevisiae boulardii CNCM I-1079, được chon lọc đặc biệt, có tác dụng cải thiện hệ miễn dịch và sức khỏe đường tiêu hóa, hạn chế tiêu chảy và tăng cường tiêu hóa dưỡng chất. Sản phẩm cần thiết cho thú non và thú sinh sản, các loại giống mới năng suất cao.