Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Sáu, 29 tháng 12, 2017

Thức ăn chăn nuôi là gì?

I. Thức ăn chăn nuôi là gì ?

Thức ăn chăn nuôi mà vật nuôi ăn, uống ở dạng tươi, sống hoặc đã qua chế biến, bảo quản, bao gồm: nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn, thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh và những sản phẩm có nguồn gốc thực vật, động vật, vi sinh vật, khoáng vật, những sản phẩm hóa học, công nghệ sinh học…, những sản phẩm này cung cấp các chất dinh dưỡng cần thiết cho con vật theo đường miệng, đảm bảo cho con vật khỏe mạnh, sinh trưởng, sinh sản và sản xuất bình thường trong một thời gian dài.

II. Phân loại thức ăn chăn nuôi


a) Nguyên liệu thức ăn chăn nuôi hay thức ăn đơn là thức ăn dùng để cung cấp một hoặc nhiều chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn cho vật nuôi;

b) Thức ăn chăn nuôi hỗn hợp hoàn chỉnh là hỗn hợp của nhiều nguyên liệu thức ăn được phối chế theo công thức nhằm đảm bảo có đủ các chất dinh dưỡng để duy trì đời sống và khả năng sản xuất của vật nuôi theo từng giai đoạn sinh trưởng hoặc chu kỳ sản xuất mà không cần thêm bất kỳ loại thức ăn nào khác ngoài nước uống;

c) Thức ăn đậm đặc là hỗn hợp các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có hàm lượng các chất dinh dưỡng cao hơn nhu cầu vật nuôi và dùng để pha trộn với các nguyên liệu khác tạo thành thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh;

d) Thức ăn chăn nuôi bổ sung là nguyên liệu đơn hay hỗn hợp của nhiều nguyên liệu cho thêm vào khẩu phần ăn để cân đối các chất dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể vật nuôi;

đ) Phụ gia thức ăn chăn nuôi là chất có hoặc không có giá trị dinh dưỡng được bổ sung vào thức ăn chăn nuôi trong quá trình chế biến, xử lý nhằm duy trì hoặc cải thiện đặc tính nào đó của thức ăn chăn nuôi;

e) Premix là loại thức ăn bổ sung gồm hỗn hợp của một hay nhiều hoạt chất cùng với chất mang;

g) Hoạt chất là chất vi dinh dưỡng hoặc chất kích thích sinh trưởng, kích thích sinh sản hoặc chất có chức năng sinh học khác được đưa vào cơ thể vật nuôi bằng thức ăn hay nước uống;

h) Chất mang là chất vật nuôi ăn được dùng để trộn với hoạt chất trong premix nhưng không ảnh hưởng đến sức khoẻ vật nuôi.

i) Sản xuất thức ăn chăn nuôi là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động sản xuất, chế biến, bao gói, bảo quản, vận chuyển thức ăn chăn nuôi. 

III. Phân loại nguyên liệu thức ăn chăn nuôi


1) Dựa trên nguồn gốc, thức ăn chăn nuôi gồm các loại sau:
- Thức ăn thô khô: tất cả các loại cỏ tự nhiên, cỏ trồng được cắt phơi khô, các loại phụ phẩm nông nghiệp phơi khô… có hàm lượng xơ thô > 18%, như: 
• Cỏ khô họ đậu, hòa thảo: pangola, stylo…
• Phụ phẩm công nông nghiệp: giây lang, cây lạc, thân cây ngô, rơm lúa, bã mía, bã dứa… phơi khô.
- Thức ăn xanh: tất cả các loại rau, cỏ trồng, cỏ tự nhiên cho ăn tươi như: rau muống, bèo hoa dâu, lá bắp cải, su hào, cỏ voi, cây ngô non, cỏ ghine…

- Thức ăn giàu năng lượng: tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein thô < 20%, xơ thô 70% TDN như:
• Các loại hạt ngũ cốc: ngô, gạo, cao lương…
• Rỉ mật đường, dầu, mỡ…
• Phế phụ phẩm của ngành xay xát: cám gạo, cám mỳ, cám ngô…
• Các loại củ, quả: sắn, khoai lang, khoai tây, bí đỏ…

- Thức ăn ủ xanh:
• Cây ngô tươi, cỏ voi ủ xanh.
• Các loại rau ủ chua.

- Thức ăn bổ sung khoáng:
• Bột xương, bột vỏ sò, bột đá vôi, bột CaCO3…
• Các chất khoáng vi lượng: FeSO4, CuSO4, MnSO4…
- Thức ăn bổ sung phi dinh dưỡng:
• Chất chống mốc, chất chống oxy hóa.
• Chất kích thích sinh trưởng…
• Chất tạo màu, tạo mùi.
• Thuốc phòng bệnh, kháng sinh.
- Thức ăn bổ sung vitamin: A, D, E, B1, B2, C… 

- Thức ăn giàu protein: tất cả các loại thức ăn có hàm lượng protein thô > 20%, xơ thô < 18%, như:
• Thức ăn giàu protein nguồn gốc thực vật: các loại hạt họ đậu (đỗ tương, vừng, đậu mèo…) và phụ phẩm công nghiệp chế biến (khô dầu lạc, khô dầu đỗ tương…).
• Nấm men, tảo biên, vi sinh vật…
• Thức ăn giàu protein nguồn gốc động vật: bột cá, bột thịt, sữa bột…

- Thức ăn hỗn hợp: là hỗn hợp có từ hai nguyên liệu đã qua chế biến trở lên. Thức ăn hỗn hợp được phối hợp theo công thức của nhà chế tạo.
Kết quả hình ảnh cho thức ăn chăn nuôi
Thức ăn chăn nuôi 
Có 3 loại thức ăn hỗn hợp:

- Hỗn hợp bổ sung: là hỗn hợp chứa các chất dinh dưỡng bổ sung như khoáng vi lượng, vitamin, axit amin, enzym, thuốc phòng bệnh… Hỗn hợp bổ sung thường chế biến dưới dạng premix. Ví dụ: premix khoáng, premix vitamin-axit amin…

- Hỗn hợp hoàn chỉnh: là loại hỗn hợp chứa tất cả các chất dinh dưỡng cần thiết cho động vật nuôi, khi cho ăn không phải bổ sung bất cứ một chất nào khác trừ nước uống.

- Hỗn hợp đậm đặc: là hỗn hợp giàu protein, axit amin, chất khoáng, vitamin; khi nuôi động vật người ta pha loãng bằng những thức ăn tinh khác (ví dụ: ngô, tấm, cám gạo…).

2) Dựa trên phương pháp chế biến, thức ăn chăn nuôi gồm:
- Thức ăn dạng viên được qua máy ép cám viên chế biến từ các bột nguyên liệu ngô, khoai, sắn, lúa, đậu tương.v..v..


Doanh nghiệp làm thức ăn chăn nuôi muốn đảm bảo chất lượng cũng như tạo uy tín trên thị trường nên lựa chọn sử dụng dịch vụ làm hợp quy thức ăn chăn nuôi của công ty Chứng nhận và kiểm định Vinacontrol. Vui lòng liên hệ theo đường dây nóng 1800. 6083 để được biết thêm chi tiết. 

Thứ Tư, 27 tháng 12, 2017

Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo con – nhiễm trùng huyết, viêm não

1. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là bệnh gì?

Listeriosis là một bệnh nhiễm khuẩn ảnh hưởng đến nhiều loài động vật, bao gồm cả heo, người, chim và các động vật nhai lại. Bệnh do vi khuẩn tên là Listeria monocytogenes gây ra và được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những vùng có khí hậu ôn đới và khí hậu lạnh.

Vi khuẩn thường được tìm thấy trong ruột của heo và các loài cảm nhiễm khác. Ngoài ra, nó còn xuất hiện nhiều trong pho mát và thức ăn ủ chua. Heo sẽ bị nhiễm trùng nếu tiếp xúc với mầm bệnh, dù vậy bệnh rất ít xảy ra trên heo.

Vi khuẩn thường gây viêm não và viêm màng não mãn tính trên động vật nhai lại trưởng thành. Hơn nữa, nó cũng gây ra rất nhiều những thiệt hại đáng kể trên người.

2. Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo nguy hiểm như thế nào?

Khi heo khỏe hít phải, ăn phải vi khuẩn, vi khuẩn xâm nhập đến các mô, cơ quan đích và gây nên các triệu chứng bệnh tương ứng như:

– Xâm nhập vào máu gây nhiễm trùng huyết. nhiễm trùng tiềm ẩn (ít biểu hiện triệu chứng ra ngoài).

– Xâm nhập vào bào thai, vào tử cung gây thai chết lưu, hỏng thai, gây chết heo con sơ sinh, sinh non…

– Xâm nhập vào thành ruột gây rối loạn tiêu hóa, hấp thu…

– Xâm nhập vào màng não và các tế bào não gây triệu chứng thần kinh, viêm màng não, viêm não.

– Xâm nhập đến các cơ quan nội tạng như gan gây hoại tử gan.

Mặc dù bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo ít khi phát triển nặng trên heo nhưng với mật độ mầm bệnh dày đặc và đa dạng như hiện nay, nếu chúng ta không làm tốt công tác vệ sinh tiêu độc khử trùng thì khi được các mầm bệnh khác “mở đường”, vi khuẩn Listeria hoàn toàn có thể xâm nhập và làm cho tình trạng càng nặng thêm.

3. Làm sao để phát hiện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo?


Bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo thường chỉ xuất hiện trên heo nái và heo con theo mẹ. Vì vậy, ta tập trung quan sát 2 đối tượng này, nếu thấy có các biểu hiện sau đây thì có thể heo đã bị nhiễm vi khuẩn Listeria.
Heo nái:

– Ít khi thấy biểu hiện rõ triệu chứng.

– Nếu có thì có thể có các triệu chứng như:
Sẩy thai.
Số heo con sinh ra yếu gia tăng.
Tăng số heo con chết lưu.
– Đột tử.
– Sốt cao.
– Nhiễm trùng huyết.
– Triệu chứng thần kinh, viêm màng não.
– Đầu bị nghiêng 1 bên.
– Nhiễm trùng tai.
Trong trường hợp bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo gây thiệt hại nhiều, để chắc chắn ta nên mang mẫu bệnh phẩm đi xét nghiệm để tìm chính xác căn nguyên gây bệnh nhằm có biện pháp điều trị kịp thời.

4. Xử lý bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo như thế nào?

Hành động đầu tiên nếu phát hiện heo nhiễm bện bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo là cách ly toàn bộ heo bệnh sang một ô chuồng khác để chăm sóc theo chế độ riêng.


Nếu heo đang ăn thức ăn ủ chua thì nên dừng lại ngay. Sau đó tiến hành điều trị cho heo bệnh bằng kháng sinh và các thuốc trợ sức, trợ lực (nhất là với những heo giảm mức thu nhận thức ăn).

Các thuốc kháng sinh hiệu quả với bệnh do vi khuẩn Listeria trên heo bao gồm: penicillin, ceftiofur, erythromycin , và trimethoprim/sulfonamide. Trong đó, penicillin là thuốc có tác dụng tốt nhất cho đến hiện nay.

Khi tiêm kháng sinh, cần dùng ngay liều cao từ ban đầu vì như vậy mới có thể đạt được nồng độ diệt khuẩn tối thiểu trong não.
Doanh nghiệp làm thức ăn chăn nuôi muốn đảm bảo chất lượng cũng như tạo uy tín trên thị trường nên lựa chọn sử dụng dịch vụ làm hợp quy thức ăn chăn nuôi của công ty Chứng nhận và kiểm định Vinacontrol. Vui lòng liên hệ theo đường dây nóng 1800. 6083 để được biết thêm chi tiết. 

Thứ Sáu, 22 tháng 12, 2017

Bột đậu tương ảnh hưởng tích cực đến Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp trên lợn

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) là bệnh phổ biến nhất trong ngành chăn nuôi lợn. Ở lợn nái, vi rút PRRS gây ra vấn đề sinh sản trong thời gian mang thai, bao gồm đẻ non hoặc sẩy thai.


Những con lợn đang tăng trưởng mắc phải bệnh này sẽ có vấn đề về đường hô hấp và tăng trưởng kém. Trong năm 2012, Holtkamp và các đồng nghiệp ước tính thiệt hại hàng năm do virus PRRS gây ra là 664 triệu USD chỉ riêng tại Mỹ. Các nhà sản xuất ở các trang trại lớn hơn sử dụng vắc-xin và các biện pháp an toàn sinh học tăng cường để ngăn chặn toàn bộ đàn gia súc bị triệt tiêu trong một đợt bùng phát vi rút PRRS. Thật không may, những phương pháp này đôi khi mang lại rất ít thành công. Do đó, các biện pháp khác, chẳng hạn như tăng lượng bột đậu tương trong chế độ ăn đang được áp dụng.
Kết quả hình ảnh cho bột đậu tương
hình minh họa. 

Tăng hàm lượng bột đậu tương có thể giúp giảm bớt những ảnh hưởng của vi rút PRRS. Bột đậu tương là nguồn protein chính cho lợn ăn. Nó cũng chứa isoflavones – chất có đặc tính chống viêm và kháng virút.

Trong số ra tháng 6 năm 2015 của tạp chí Journal of Animal Science, Tiến sĩ Ryan Dilger – trợ lý giáo sư tại trường Đại học Illinois và các đồng nghiệp đã xác định “Ảnh hưởng của hàm lượng bột đậu tương trong chế độ ăn tới hiệu suất tăng trưởng và phản ứng miễn dịch của lợn nhiễm vi rút PRRS”.

Nhóm nghiên cứu cho 64 con lợn cai sữa được tiêm phòng hoặc không tiêm phòng virus PRRS ăn bột đậu tương ở hàm lượng thấp hoặc cao. Các mẫu máu được lấy để xác định ảnh hưởng của bột đậu tương tới phản ứng miễn dịch và để xác định một cơ chế hành động có thể thực hiện. Cuộc thử nghiệm kéo dài 14 ngày.                             
“Các phân tích tương ứng với giai đoạn đầu, giữa và giai đoạn phục hồi nhiễm vi rút PRRS, thường kéo dài 14 ngày”, Dilger nói.

Những con lợn bị nhiễm virút PRRS đã bị tăng nhiệt, giảm lượng thức ăn tiêu thụ hàng ngày và giảm hiệu quả thức ăn so với những con lợn không bị nhiễm bệnh. Tuy nhiên, trong nhóm bị nhiễm vi rút PRRS, lợn được cho ăn bột đậu tương với hàm lượng cao có xu hướng gia tăng trọng lượng trung bình hàng ngày so với những con lợn được cho ăn ở hàm lượng thấp.

Lợn không bị nhiễm vi rút PRRS có hiệu suất tăng trưởng tương tự cho dù chúng có được cho ăn chế độ ăn chứa bột đậu tương với hàm lượng cao hoặc thấp hay không.

Vào ngày thứ 14, lợn bị nhiễm virút PRRS ăn bột đậu tương với hàm lượng cao có huyết thanh PRRS thấp hơn và TNF-α (một cytokine có liên quan với viêm nhiễm) giảm so với lợn nuôi bằng một chế độ ăn có hàm lượng bột đậu tương thấp. Điều này cho thấy rằng những con lợn bị nhiễm bệnh được cho ăn chế độ ăn có chứa bột đậu tương ở hàm lượng cao đã loại bỏ virút hiệu quả hơn so với lợn bị nhiễm bệnh được cho ăn hàm lượng bột đậu tương thấp.

Nhìn chung, cho lợn nhiễm vi rút PRRS ăn bột đậu tương với hàm lượng cao trong khẩu phần ăn cho lợn có thể làm tăng tốc độ tăng trưởng và hiệu quả trong bố trí sản xuất nhất định.

“Đưa ra những lợi ích sức khỏe cho lợn cai sữa có tiềm năng lớn trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất trong giai đoạn phát triển sau này”, Dilger nói. “Trong khi chúng tôi tập trung vào những lợi ích về miễn dịch và tăng trưởng trong giai đoạn khởi đầu, nghiên cứu trong tương lai cũng sẽ cần phải kết hợp với những lợi ích lâu dài trong suốt giai đoạn nuôi thương phẩm”.

[Infographic] Bức tranh ngành thủy sản 10 tháng năm 2017

Ngành thủy sản 10 tháng năm 2017 nhìn chung khá khả quan khi giá trị suất khẩu ước đạt 6,73 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2016; giá trị nhập khẩu đạt 1,14 tỷ USD, tăng 29,8%.

Theo báo cáo kết quả thực hiện kế hoạch tháng 10/2017 (số liệu tính đến 15/10/2017) của ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, sản lượng nuôi trồng thủy sản 10 tháng đầu năm đạt 3.173 ngàn tấn, tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác hải sản đạt 2.718 nghìn tấn, tăng 3,1% so với cùng kỳ 2016.

Giá cá tra và giá tôm nguyên liệu tăng mạnh trong thời gian qua nhờ nhu cầu thu mua nguyên liệu để chế biến xuất khẩu từ các doanh nghiệp tăng phục vụ các đơn hàng cuối năm, trong khi nguồn cung hạn chế.

Theo đó, giá trị xuất khẩu thủy sản 10 tháng năm 2017 ước đạt 6,73 tỷ USD, tăng 17,6% so với cùng kỳ năm 2016; giá trị nhập khẩu đạt 1,14 tỷ USD, tăng 29,8%.


Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

Gỡ bỏ 12 thủ tục sản xuất kinh doanh chăn nuôi, thủy sản

Trong phương án đơn giản hóa đối với nhóm thủ tục hành chính liên quan đến sản xuất, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật trên cạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) dự kiến sẽ bãi bỏ 12 thủ tục hành chính và quy định trong lĩnh vực này.

Các thủ tục và quy định này nằm rải rác trong nhóm thủ tục hành chính (TTHC) từ khi nuôi/sử dụng con giống đến phân phối, xuất khẩu. Theo thống kê của Bộ NN&PTNT, tổng số có 83 TTHC trong nhóm này. Trong đó: Lĩnh vực Chăn nuôi có 23 TTHC, lĩnh vực Thú y có 43 TTHC và lĩnh vực Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản có 17 TTHC.

Trong số 12 thủ tục xem xét bãi bỏ gồm 7 thủ tục ở lĩnh vực Chăn nuôi, 1 thủ tục trong lĩnh vực Thú y và 4 thủ tục của lĩnh vực Quản lý chất lượng Nông lâm sản và Thủy sản.
Lĩnh vực Nông lâm sản và Thủy sản dự kiến bãi bỏ 4 thủ tục

Một số thủ tục điển hình được xem xét bãi bỏ như: Cấp giấy phép nhập khẩu giống vật nuôi ngoài danh mục giống vật nuôi được phép sản xuất, kinh doanh; Cấp giấy phép nhập khẩu tinh, phôi giống vật nuôi; Kiểm tra giảm chất lượng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu có thời hạn; Các thủ tục về thẩm định điều kiện vệ sinh thú y (được quy định các dạng cơ sở cụ thể) do Trung ương và địa phương quản lý...

Nhiều thủ tục trong sản xuất, kinh doanh chăn nuôi được bãi bỏ 
Ngoài 12 thủ tục đề nghị bãi bỏ trong nhóm thủ tục liên quan đến sản xuất, kinh doanh động vật, sản phẩm động vật trên cạn, Bộ NN&PTNT đang dự kiến đơn giản hóa 49 thủ tục khác trong lĩnh vực này. Ước tính tỷ lệ cắt giảm sau đơn giản hóa TTHC nhóm này khoảng 27%, tổng chi phí tuân thủ TTHC tiết kiệm được hơn 483 tỷ đồng/năm.