Chứng nhận hợp quy chất lượng sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Tuân thủ đúng pháp luật, lấy lòng tin của khách hàng, mang lại lợi ích cho doanh nghiệp.

Đa dạng hóa sản phẩm thức ăn chăn nuôi

Cung cấp thông tin khoa học, dây chuyền sản xuất, các sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong nước và quốc tế.

Đồng hành cùng các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Chắp cánh cùng doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi vươn xa tầm quốc tế.

Thông tin và cơ chế pháp luật trong ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi.

Cung cấp các thông tin và quy định văn bản pháp luật hiện hành cùng cách triển khai tới các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi.

Thứ Tư, 28 tháng 2, 2018

Doanh nghiệp kêu phiền toái vì Bộ Nông nghiệp kiểm tra chồng chéo


Tại hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp về dự án Luật Chăn nuôi (sửa đổi) ngày 6/12, nhiều doanh nghiệp phàn nàn về tình trạng kiểm tra nguyên liệu thức ăn chăn nuôi nhập khẩu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chồng chéo, gây khó khăn. 

Kết quả hình ảnh cho thức ăn chăn
Ông Lê Giang - đại diện Công ty TNHH Vĩnh An, cho hay, việc kiểm tra nguyên liệu chẳng những khiến công ty mất thời gian mà còn tốn nhiều chi phí.
Cụ thể, từ năm 2013 tới nay, doanh nghiệp này đã mất gần 1 tỷ đồng cho chi phí kiểm nghiệm chất lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi. Tính trung bình, mỗi năm mất khoảng 300 triệu đồng.
Hơn thế nữa, chi phí kiểm tra còn tính trên giá trị lô hàng. Chi phí kiểm tra độ đạm mất khoảng 350.000 đồng mỗi lần, nhưng cơ quan quản lý thu phí tính trên giá trị lô hàng, ví dụ lô hàng trị giá nửa triệu USD mất khoảng 9 triệu đồng tiền phí.
Mặt khác, cùng một con tàu, cơ quan quản lý chỉ lấy 1-2 mẫu, tuy nhiên tàu đó chở hàng cho khoảng 60 chủ hàng, thì vẫn lấy phí của tất cả 60 chủ hàng đó, nhiều trường hợp chi phí cả tàu lên tới 1 tỷ đồng.
Thời gian kiểm tra thực tế kéo dài đến 48 tiếng, thậm chí có trường hợp kéo dài 72 tiếng, tức 3 ngày. Điều này dẫn đến chi phí lưu kho lưu bãi của các doanh nghiệp là "khủng khiếp". 
"Mà nói thật là theo chúng tôi biết, thì họ không kiểm tra gì cả. Ví dụ chỉ tiêu về đạm, chỉ cần lệch nhau nửa độ đạm thì các doanh nghiệp đã nhảy lên rồi, nhưng kết quả kiểm tra họ lệch tới 3 độ. Khi chúng tôi kêu thì các ông ấy chỉnh sửa, lại đúng", ông Giang nêu thực tế.
Một vấn đề khác khiến doanh nghiệp đau đầu là tình trạng kiểm tra chồng chéo. Các nguyên liệu thức ăn chăn nuôi vừa bị cơ quan quản lý chất lượng kiểm tra, vừa bị các cơ quan kiểm dịch động vật, kiểm dịch thực vật kiểm tra.
"Ở các cảng phía Nam thì việc kiểm dịch rất nhanh, sáng hàng đến thì chiều thông quan, nhưng ở cảng Hải Phòng thì phải mất 48 tiếng mới cấp chứng thư. Thời gian kéo dài lê thê, mệt mỏi vô cùng, nhất là nếu trùng thứ Bảy, Chủ Nhật", ông Giang bức xúc.
Cùng ý kiến với ông Giang, nhiều doanh nghiệp cho rằng việc nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi thường có khối lượng rất lớn, lên tới hàng chục nghìn tấn, nếu thời gian làm thủ tục kéo dài thì chi phí rất lớn, chất lượng sản phẩm cũng bị ảnh hưởng, rất phiền toái cho doanh nghiệp.
Về vấn đề này, bà Nguyễn Thị Kim Anh, Vụ trưởng Vụ Pháp chế - Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thừa nhận, trong việc quản lý vật tư nông nghiệp đang có sự chồng chéo giữa các đơn vị kiểm tra chất lượng, kiểm dịch thực vật, kiểm dịch động vật trong cùng Bộ. 
"Tuy nhiên, chúng tôi đã làm việc với các cơ quan và thống nhất theo hướng một mặt hàng thì chỉ một đơn vị chủ trì, các đơn vị khác phối hợp và chỉ lấy mẫu 1 lần", bà nói.
Bà Kim Anh cũng cho biết Bộ sẽ kiểm tra lại những phản ánh của doanh nghiệp, nếu đúng sẽ cương quyết chấn chỉnh.
"Sang tuần tới, chúng tôi sẽ đi kiểm tra ở Hải Phòng và Quảng Ninh, chúng tôi sẽ trực tiếp làm việc với doanh nghiệp của anh Lê Giang. Bộ đã hứa là sẽ cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, Bộ sẽ làm", Vụ trưởng Vụ Pháp chế cam kết.
Doanh nghiệp có nhu cầu thực hiện hợp quy thức ăn chăn nuôi vui lòng liên hệ công ty chứng nhận và kiểm định Vinacontrol để được nhận tư vấn và hỗ trợ. 

Thứ Ba, 20 tháng 2, 2018

Độc tố nấm mốc nỗi lo của ngành chăn nuôi hiện đại

Độc tố nấm được biết đến là một sản phẩm của quá trình trao đổi chất thứ cấp của nấm mốc trên hầu hết các loại ngũ cốc trên toàn thế giới. Chúng xuất hiện trong điều kiện tự nhiên, trong thức ăn chăn nuôi cũng như trong thực phẩm cho người. Theo FAO có tới 25% lượng ngũ cốc thu hoạch trên thế giới đều nhiễm độc tố nấm mốc.

Hình ảnh có liên quan
Độc tố nấm mốc nỗi lo của ngành chăn nuôi hiện đại
Hiện tại có hơn 400 loại độc tố được biết đến. Trong đó có sáu loại chính và gây thiệt hại kinh tế nặng nề là: aflatoxin, trichothecenes, fumonisins, zearalenone, ochratoxin và ergot alkaloids. Chúng được hình thành bởi các loại nấm và mỗi loài nấm có thể sản xuất nhiều hơn một loại độc tố. Các loại độc tố chính được hình thành từ các loại nấm được liệt kê trong bảng dưới đây.
Phân loại nấm độc tố sản xuất
Các loại độc tố nấm mốc chính
Loài nấm
Độc tố nấm
Aspergillus
A. flavus
A. parasiticus
A. nomius
A. pseudotamarii
Aflatoxin
(B 1, B 2, G 1, G 2)
A. ochraceus
Ochratoxin
(Ochratoxin A)
A. clavatus
A. terreus
Patulin
A. flavus
A. ben
Axit Cyclopiazonic (CPA)
Claviceps
C. purpurea
C. fusiformis
C. paspali
C. africana
Một Penitrem
Ergot alkaloids:
Clavines (Argroclavine)
Axit lysergic
Amids lysergic acid (Ergin)
Ergopeptines (Ergotamine, Ergovaline)
Fusarium
F. verticillioides
(Syn. F. moniliforme)
F. proliferatum
Fumonisin (B 1, B 2, B 3)
Axit fusaric
F. graminearum
F. avenaceum
F. culmorum
Loại A Trichothecenes
T-2 toxin, HT-2 độc tố,
diacetoxyscirpenol
F. poae
F. equiseti
F. crookwellense
F. acuminatum
F. sambucinum
F. sporotrichioides
Loại B Trichothecenes
Nivalenol
deoxynivalenol
fusarenon-X
F. graminearum
F. culmorum
Zearalenone
F. sporotrichioides
Penicillium
P. verrucosum
P. viridicatum
Ochratoxin
(Ochratoxin A)
P. citrinum
P. verrucosum
Citrinin
P. roqueforti
Roquefortine
PR độc tố
Một Pentirem
P. cyclopium
P. camemberti
Axit Cyclopiazonic (CPA)
Một Pentirem
P. expansum
P. claviforme
P. roquefortii
Patulin
Neotyphodium
(Trước đây là Acremonium)
N. coenophialum
Cây roi nhỏ độc tố cao:
Ergot alkaloids, lolines, peramine
N. lolii
Cây roi nhỏ độc tố cao:
Lolitrems, peramine, ergot alkaloid
(ergovaline)
Pithomyces
P. chartarum
Sporidesmin


Các độc tố nấm có sự khác nhau về cấu trúc, điều này giải thích cho sức ảnh hưởng của chúng tới sức khỏe vật nuôi hay sự đã rạng các biểu hiện bên ngoài và gây những thiệt hại kinh tế nghiêm trọng. Các tác động của độc tố chính là các chất gây ung thư, đột biến gen, suy thận, nhiễm độc gan, rối loạn sinh sản, suy giảm miễn dịch hoặc các phản ứng dị ứng.


Có một số yếu tố ảnh hưởng đến những biểu hiện trên.



- Loại độc tố nấm mốc sử dụng, số lượng và thời gian sử dụng.


- Loài động vật, giới tính, giống, tuổi tác, sức khỏe nói chung, tình trạng miễn dịch tự nhiên.


- Quản lý trang trại: vệ sinh, nhiệt độ, mật độ sản xuất.


- Có thể có sự kết hợp giữa các độc tố đồng thời có mặt trong thức ăn.

Độc tố nấm có thể vẫn xảy ra khi đã tiến hành lấy mẫu phân tích do:


- Thứ nhất, độc tố nấm thường xảy ra tại một điểm, một phần rất nhỏ bị mốc cũng có thể ảnh hưởng lớn tới cả lô nguyên liệu do đó việc lấy mẫu nếu không tuân thủ đúng quy trình để có được những mẫu đại diện thì không thể có kết quả chính xác.

- Thứ hai, độc tố nấm mốc ở dạng chưa hoạt động có thể xuất hiện trong thức ăn. Mycotoxin chưa hoạt động có tính chất hóa học và các phản ứng sinh hóa không ảnh hưởng tới con người và vật nuôi nhưng khi độc tố nấm mốc có thể được liên kết với một số nguyên liệu thức ăn ví dụ như glycosides, glucuronides, este acid béo và protein.

Do đó, các độc tố nấm mốc chưa hoạt động thường không được phát hiện với phương pháp phân tích thông thường, tức là trong các mẫu kiểm tra thường xuyên sẽ cho biết là không có độc tố (các tiền độc tố không được phát hiện bởi các test kiểm tra thông thường), nhưng trong khi thực chất trong mẫu có chứa độc tố nấm mốc chưa hoạt động.

Mỗi loại nấm có thể sản xuất nhiều hơn một loại độc tố. Nên có nhiều độc tố nấm mốc có mặt cùng một lúc trong thức ăn, do đó làm tăng các nguy cơ gây nên ngộ độc và có các biểu hiện triệu chứng rất phức tạp do đó việc xử lý để đảm bảo sức khỏe vật nuôi và tăng năng suất. Tuy nhiên cũng có một số độc tố khi tác dụng hiệp đồng (cùng lúc) không nguy hiểm bằng tác động độc lập. Nhưng đa số các phản ứng hiệp đồng thường gây hậu quả nặng nề hơn, có thể nguy hiểm hơn cả hai hay nhiều độc tố nấm mốc tác động một mình cộng lại.
Bảng ảnh hưởng của độc tố nấm mốc
Độc tố nấm mốc
Ảnh hưởng có thể
Aflatoxins
+ Ảnh hưởng tới gan, tác dụng gây ung thư và gây quái thai
+ Xuất huyết (đường ruột, thận)
+ Tốc độ tăng trưởng giảm
+ Giảm hiệu suất
+ Ức chế sinh miễn dịch
Ochratoxins
Gây độc ở thận
+ Gây ung thư
+ Tổn thương gan nhẹ
+ Ruột
+ Gây quái thai
+ Giảm hấp thu thức ăn,  tốc độ tăng trưởng giảm
+ Ức chế miễn dịch
Fumonisins
Gây phù phổi
Ức chế sinh miễn dịch
Trichothecenes
Rối loạn tiêu hóa (nôn, tiêu chảy, giảm ăn), giảm cân
+ Xuất huyết (dạ dày, tim, ruột, phổi, bàng quang, thận)
+ Phù nề
+ Tổn thương răng miệng
+ Viêm da
+ Bệnh về máu
+ Vô sinh
+ Sự thoái hóa của tủy xương
+ Tăng trưởng chậm
+ Ức chế miễn dịch
Zearalenone
+ Phù nề của âm hộ, sa âm đạo, mở rộng của tử cung
+ Teo tinh hoàn, teo buồng trứng
+ Phì đại tuyến vú
+ Vô sinh
Ergot alkaloids
Hội chứng thần kinh hoặc hoại tử
+ Rối loạn tiêu hóa (nôn, tiêu chảy, từ chối thức ăn)
+ Giảm cân
+ Co giật
+ Hủy hoại thai 
Fescue toxins
+ Tác dụng trong các hệ thống miễn dịch và sinh sản
+ Giảm cân
+ Lượng thức ăn thấp hơn
+ Hành vi bất thường, yếu kém nói chung, co giật
Axit Cyclopiazonic
+ Tác dụng hoại tử (gan, mô đường tiêu hóa, thận, cơ xương)
+ Gây ung thư
+ Độc thần kinh
Citrinin
+ Độc thận
+ Gây quái thai
+ Gan có ảnh hưởng
Roquefortine
Độc thần kinh
Patulin
Làm biến đổi gen
Độc thần kinh
Ức chế miễn dịch

Thứ Bảy, 17 tháng 2, 2018

Chăn nuôi về với tự nhiên

Xã hội càng phát triển mạnh mẽ công nghiệp, dịch vụ thì con người càng có xu hướng tìm về với những sản phẩm mang tính tự nhiên. Bởi thế, tuy mới khởi xướng nhưng mô hình nuôi gà thả vườn của Hà Nội đã hứa hẹn một bước đi đúng hướng…

Phát triển mô hình chuỗi


Hiện trên địa bàn Hà Nội chăn nuôi gà thả vườn phát triển rất mạnh chiếm 58,7% tổng đàn gà của thành phố. Tận dụng thức ăn từ tự nhiên hoặc các phụ phẩm nông nghiệp như ngô, cám, rau xanh nên gà có chất lượng thịt thơm, ngon và ngày càng được người tiêu dùng đánh giá cao.

Hướng tới lợi ích chăn nuôi lâu dài và bền vững của gà thả vườn, Hà Nội đã xây dựng thành công nhãn hiệu tập thể “Gà Mía Sơn Tây”, “Gà đồi Ba Vì” và “Gà đồi Sóc Sơn”. Thành phố cũng đã xây dựng dựng được 21 chuỗi liên kết chăn nuôi – tiêu thụ sản phẩm trong đó có một số mô hình chuỗi chăn nuôi tiêu thụ sản phẩm thịt gà hoạt động tương đối hiệu quả.


Mô hình nuôi gà Mía thuần của Trung tâm Khuyến nông Hà Nội


Thứ nhất phải kể đến chuỗi sản xuất và tiêu thụ gà Mía Sơn Tây do Hội Chăn nuôi và tiêu thụ gà Mía Sơn Tây tổ chức với trên 30 hội viên, quy mô nuôi thường xuyên 100.000 con (80.000 gà đẻ và 20.000 gà thịt). Mô hình đã chuẩn hóa quy trình chăn nuôi đảm bảo an toàn sinh học và xây dựng được quy chế quản lý chuỗi, chất lượng sản phẩm, hàng tháng cung cấp cho thị trường khoảng 1 triệu con giống 1 ngày tuổi và 3.000 kg gà Mía thịt chất lượng cao.


Thứ hai là chuỗi sản xuất và tiêu thụ gà đồi Ba Vì do Hội Chăn nuôi và tiêu thụ gà đồi Ba Vì tổ chức. Chuỗi đã thu hút và lựa chọn được 65 hộ chăn nuôi, 1 cơ sở giết mổ, 1 công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tham gia liên kết chuỗi với quy mô chăn nuôi thường xuyên khoảng 700.000 con.

Chuỗi đã bước đầu xây dựng được kênh tiêu thụ sản phẩm gà thịt được giết mổ, đóng gói đảm bảo ATTP mang nhãn hiệu “Gà đồi Ba Vì” qua hệ thống cửa hàng tiện ích và hệ thống nhà hàng tại khu vực nội thành Hà Nội. Sản lượng tiêu thụ qua kênh này đạt khoảng 3 tấn/tháng.

Thứ ba là mô hình chuỗi chăn nuôi và tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn do Hội Chăn nuôi và tiêu thụ gà đồi Sóc Sơn tổ chức, thu hút 60 hộ chăn nuôi, 1 cơ sở giết mổ, 1 Công ty sản xuất thức ăn chăn nuôi tham gia liên kết với quy mô thường xuyên đạt 30.000 con gà thịt, cung cấp cho thị trường trên 300 kg /ngày.

Bên cạnh những chuỗi do các hội chăn nuôi sáng lập còn có chuỗi do doanh nghiệp sáng lập. Chuỗi thực phẩm sạch 3F được hình thành trên cơ sở liên kết hợp tác giữa Công ty Cổ phần chế biến thực phẩm 3F (đơn vị giết mổ, chế biến và tiêu thụ) với các trại chăn nuôi lợn, gia cầm tại huyện Thạch Thất, TP Hà Nội và một số huyện của tỉnh Vĩnh Phúc. Nhờ tiềm lực kinh tế nên quy mô và năng lực sản xuất của chuỗi này khá lớn với 1 nhà máy giết mổ, 200 trang trại gà, sản lượng cung cấp và tiêu thụ đạt 2,05 tấn thịt, 100.000 quả trứng gà/ngày.
Bảo tồn con gà tiến vua

Những năm vừa qua, do tốc độ công nghiệp hóa trong chăn nuôi nên một số giống gen nhập ngoại phát triển mạnh, các nguồn gen nội địa có nguy cơ mai một trong đó có gà Mía. Gà Mía là giống gà thịt cổ truyền nổi tiếng, tuy không xác định từ đời nào nhưng gốc tích gắn liền với tập quán văn hoá địa phương tại làng cổ Đường Lâm. Chất lượng thịt của chúng rất thơm ngon nên xưa kia được dùng làm lễ vật có giá trị dâng lên cung tiến cho vua.

Ảnh minh họa


Để bảo tồn và phát triển giống gà Mía, Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành Quyết định công nhận là một giống nằm trong danh mục nguồn gen vật nuôi quý hiếm, từ năm 2012 đến nay, UBND Thành phố đã có nhiều chủ trương, chính sách để phát triển chăn nuôi. Đi theo hướng ấy, Trung tâm Khuyến nông Hà Nội đã xây dựng những mô hình nuôi gà Mía thuần thả vườn thay vì gà Mía lai như trước đây. Công ty TNHH MTV Đầu tư & PTNN Hà Nội là đơn vị được giao nhiệm vụ duy trì chọn lọc, nuôi giữ giống gà Mía cung ứng 2.241.287 con giống ra thị trường. Ngoài ra trên địa bàn Thành phố còn có nhiều cơ sở nuôi giống, ấp trứng cung cấp gà giống gà Mía thuần khác.

Tuy nhiên, việc phát triển đàn gà Mía vẫn còn nhiều khó khăn như phần lớn chăn nuôi theo hình thức nhỏ lẻ trong nông hộ, năng suất chất lượng và hiệu quả chưa cao với quy trình và phương thức khác nhau nên việc kiểm soát dịch bệnh và an toàn thực phẩm khó khăn. Các cơ sở sản xuất, cung ứng giống gà Mía đảm bảo chất lượng chưa nhiều (hiện mới có đàn gà của HADICO là được công nhận đàn giống gốc) nên không đủ giống thuần chủng cấp cho người chăn nuôi. Công tác truyền thông, tuyên truyền quảng bá thương hiệu sản phẩm gà Mía còn hạn chế…

Bởi thế mà định hướng phát triển trong thời gian tới của Hà Nội sẽ là tập trung duy trì chọn lọc đàn gà giống gốc sản xuất giống bố mẹ và giống thương phẩm cung cấp ra thị trường. Phát triển chuỗi và liên kết chuỗi gắn sản xuất và tiêu thụ sản phẩm gà Mía trên địa bàn Thành phố và các tỉnh. Phát triển ổn định về quy mô, nâng cao năng suất, chất lượng đối với chuỗi liên kết nêu trên với mục tiêu các sản phẩm của chuỗi đều an toàn, kiểm soát được chất lượng và truy xuất được nguồn gốc sản phẩm. Nhân rộng các mô hình chuỗi liên kết khép kín từ sản xuất sơ chế bảo quản tiêu thụ sản phẩm theo hướng cung cấp sản phẩm tại các địa phương và liên kết tiêu thụ sản phẩm với các doanh nghiệp tiêu thụ. Phát triển các cửa hàng giới thiệu và bán sản phẩm. Phát huy và sử dụng có hiệu quả nhãn hiệu tập thể của từng chuỗi liên kết đối với chăn nuôi và định hướng thị trường cho các chuỗi phù hợp với năng lực sản xuất, nhu cầu của thị trường. Tổ chức liên kết với các cơ sở giết mổ, tiêu thụ sản phẩm trong và ngoài Thành phố.


Để làm được những điều đó đối với Bộ Nông nghiệp & PTNT cần chỉ đạo Cục Chế biến và phát triển thị trường nông sản phối hợp với Sở Nông nghiệp & PTNT trong việc định hướng và là cầu nối cơ sở sản xuất với doanh nghiệp tiêu thụ, hỗ trợ cơ sở sản xuất xây dựng thương hiệu, quảng bá sản phẩm hướng tới xuất khẩu.

UBND Thành phố Hà Nội cần ban hành chính sách hỗ trợ xây dựng chuỗi liên kết từ chăn nuôi, giết mổ, sơ chế đến tiêu thụ sản phẩm, cụ thể như: Hỗ trợ tổ chức hợp tác liên kết chăn nuôi; hỗ trợ xe chuyên dụng cho cơ sở giết mổ; hỗ trợ kho lạnh, thiết bị bảo quản cho cơ sở tiêu thụ sản phẩm. Chỉ đạo các sở, ngành, quận, huyện, thị xã tạo điều kiện về thủ tục thuê đất trong sản xuất và xây dựng cơ sở giết mổ, chế biến, thuê địa điểm bán hàng tại các khu đô thị, trung tâm thương mại để tiêu thụ sản phẩm. Chỉ đạo cơ quan quản lý nhà nước tăng cường kiểm tra việc sản xuất và lưu thông, xử lý những trường hợp vi phạm các quy định về ATTP và môi trường.

Thứ Năm, 15 tháng 2, 2018

Những chất tăng độ đạm trong thức ăn chăn nuôi độc với cơ thể người ra sao?

Bộ NN&PTNT vừa có văn bản về thực trạng sử dụng hoá chất trong sản xuất, kinh doanh thức ăn chăn nuôi (TACN). Những chất được phát hiện trong TACN sẽ nguy hiểm thế nào với sức khoẻ con người.

Theo đó, Bộ NN&PTNT cho biết, qua việc thanh tra đột xuất một số công ty sản xuất, kinh doanh TACN, Thanh tra Bộ NN&PTNT đã phát hiện một số doanh nghiệp nhập khẩu, kinh doanh chất cyanuric acide, dicyandiamide và ammelide trong “Bột dinh dưỡng cao đạm” để đưa bổ sung vào nguyên liệu TACN cho cá da trơn, gia súc, gia cầm nhằm nâng cao độ đạm.
Kết quả hình ảnh cho thức ăn chăn nuôi
Hoá chất tăng đạm được phát hiện trong thức ăn chăn nuôi
TS Trần Hồng Côn - Khoa Hoá, ĐH Khoa học tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội: Cả ba chất cyanuric acide, dicyandiamide và ammelide đều là những chất "đạm (nitơ) không protein" và đều là các chất cơ bản là không độc. Ví dụ như đối với cyanuric acide thử nghiệm trên chuột cho thấy hàm lượng gây chết phải tới 7,7g/1kg cơ thể.

Theo đó, FDA (Mỹ) cho phép sử dụng liều lượng nhất định trong thức ăn và nước uống cho gia súc. Cyanuric acide được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, làm chất tẩy trắng, chất diệt khuẩn và diệt nấm mốc. Trong xử lý nước sinh hoạt, cyanuric acide này được sử dụng như chất ổn đinh clo trong tiệt trùng nước.

"Tuy nhiên, một điều nguy hiểm khi sử dụng chất này là khi nó kết hợp với melamine sẽ tạo ra những tinh thể ít tan. Nên khi gia súc hay con người nhận các chất này vào cơ thể, những tinh thể nói trên sẽ gây ra chảy máu đường tiết niệu và sỏi thận cao". TS Trần Hồng Côn phân tích.

Một nghiên cứu khác về ngộ độc học nêu lên rằng trong TACN của các vật nuôi trong nhà (chó, mèo) có nhiễm hỗn hợp hai chất melamine và acid cyanuric sẽ gây ra suy thận cấp.

Cũng theo TS Trần Hồng Công, còn dicyandiamide và ammelide là những chất có cấu trúc tương tự còn được sử dụng làm phân đạm nhả chậm, làm nguyên liệu để sản xuất thuốc chữa bệnh và sản xuất keo epoxi, keo dán... Chúng đều là các chất có độ độc thấp và trong thực tế, chưa có trường hợp nào bị ngộ độc bởi các chất này được ghi nhận. Giữa dicyandiamide, ammelide và melamin luôn có sự chuyển hóa qua lại trong những điều kiện nhất định.

Đối với nhà sản xuất, melamine và cả với acid cyanuric, là hai chất giúp làm tăng “nồng độ đạm” trong sản phẩm dù nồng độ đạm thật trong đó chả có bao nhiêu. Vì lợi nhuận, nhà sản xuất thực phẩm đã đánh lừa nhà kiểm định bằng cách cho melamine vào thực phẩm. Do lòng tham không đáy, một số nhà sản xuất còn cho vào cả hai chất melamine và acid cyanuric. Thế là gây ra thảm họa ngộ độc hàng loạt. Acid cyanuric rẻ hơn melamine nhiều, đó cũng là lý do có thể có sự hiện diện cả đôi trong thực phẩm dẫn tới gây độc mà người ta không ngờ đến.